27.5 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026
Trang chủ Làng văn xứ Nghệ “Giận mà thương” của Nguyễn Trung Phong đến ca khúc “Trông cây...

“Giận mà thương” của Nguyễn Trung Phong đến ca khúc “Trông cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận

Tôi có may mắn tiếp cận với anh Nguyễn Trung Phong nhà viết kịch chèo và dân ca từ những năm 1960 – 1961.

Năm đó tôi vào Đoàn Văn công Nghệ An làm nhạc công, còn anh Nguyễn Trung Phong là Trưởng phòng Văn nghệ Ty Văn hóa Nghệ An. Anh thường lui tới với anh chị em nghệ sĩ của đoàn, vừa chỉ đạo đường hướng, vừa trực tiếp tập cho anh chị em một số làn điệu chèo và dân Ca.

Đến năm 1962, anh viết xong vở chèo 5 màn “Cô gái sông Lam”, nói về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931. Cũng vào năm đó, Bộ Văn hóa tổ chức Liên hoan sân khấu toàn quốc, quyết định của UBND tỉnh và lãnh đạo Ty Văn hóa là dựng vở chèo Cô gái Sông Lam, tham gia hội diễn. Vở chèo đã có một tiếng vang lớn trên sân khấu Hà Nội, được tặng thưởng 4 Huy chương Vàng và 4 Huy chương Bạc, và biểu diễn phục vụ Hội nghị TW Đảng lần thứ VII, được vào Phủ Chủ tịch diễn cho Bác Hồ và đoàn khách của Bác xem, sau đó hầu như các cơ quan ở Hà Nội đều mời đoàn biểu diễn, vinh dự nữa là được phục vụ Thủ tướng Kim Nhật Thành, Nước Cộng hòa nhân dân Triều Tiên.

Tôi xin phép không nói về thân thế sự nghiệp của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong, mà chỉ nói về “những điều ngạc nhiên” đến từ  làn điệu Giận mà thương. Làn điệu này đã ăn sâu vào tâm khảm của nhiều người trên cả nước, từ các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian, các tầng lớp trí thức, đến mọi thành phần, mọi đối tượng nhân dân lao động… Dường như hầu hết mọi người đều nghĩ rằng Giận mà thương là làn điệu dân ca nguyên gốc của cha ông, nhưng xin được nói ngay Giận mà thương có tác giả hẳn hoi, đó là nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong.

Chuyện là, sau hòa bình lập lại 1954, đất nước chia làm 2 miền, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn. Ở miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp làm ăn tập thể, tổ đổi công, đội sản xuất mọc lên khắp nơi, ăn chia theo công điểm, tất cả mọi sinh hoạt trong hợp tác xã được khoán việc, khoán vụ. Kể cả văn nghệ cũng bình công chấm điểm, mà thời đó văn nghệ phải nói được người thực việc thực của hợp tác xã. Xuất phát từ chủ trương trên ở xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu có anh Nguyễn Trung Giáp, là Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp nhưng vẫn say sưa hoạt động văn nghệ, có năng khiếu sáng tác, anh viết một bài có nội dung phê phán những người không say sưa công việc hợp tác xã, bỏ đi làm ăn riêng lẻ. Sau đó, anh Nguyễn Trung Phong đã cấu tứ thành vở kịch ngắn với tên gọi Khi bạn đội đi vắng, chuyện nói lên đôi vợ chồng trẻ cùng xã viên hợp tác xã nông nghiệp, trong khi phong trào sản xuất đang sôi động cả quê hương, địa phương mình thì anh chồng bỏ đi buôn chè xanh chợ Lường (Đô Lương) chị vợ biết thế can ngăn chồng ở nhà tham gia công việc hợp tác xã, đừng đi buôn. Nhưng anh chồng vẫn khăng khăng không nghe lời khuyên của vợ, quát nạt và kiên quyết thực hiện theo ý đồ của mình, mâu thuẫn kịch đẩy lên cao trào, chính lúc này bất ngờ “xuất thần”: nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong, một người không hề làm âm nhạc đã viết lên làn điệu Giận mà thương nổi tiếng:

Anh ơi khoan vội bực mình
Em xin kể lại phân minh tỏ tường
Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường rất cặn kẽ
Vì thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược lường
Giận thì giận, thương thì thương (2 lần)
Anh sai đường em không chịu nổi
Anh ơi anh xin anh đừng giận vội
Trước tiên anh phải tự trách mình.

Tôi là một nhạc sỹ sáng tác chuyên nghiệp cũng phải thán phục anh, bởi về âm nhạc anh là người ngoại đạo, chỉ viết theo cảm tính, thế mà cấu trúc âm nhạc rất chặt chẽ, thể hai đoạn đơn dựa trên chất liệu hát ví Nghệ Tĩnh, quảng đặc trưng “mý là đô” của giọng la thứ (Mi ne) vuông vắn dễ hát, dễ nhớ, về phần lời ca dung dị mộc mạc, gần gũi rất dân gian, song vẫn có tính bác học, thể thơ lục bát và thất ngôn bát cú, rất nghiêm luật. Sức lan tỏa của bài ca này vô cùng rộng lớn. Có thể nói khi nói đến Nghệ An quê hương ví giặm, người ta nhớ ngay đến làn điệu Giận mà thương, đồng thời rất nhiều ca khúc viết về Nghệ An thế nào cũng có câu “gừng cay muối mặn”, “hết giận rồi thương”, chả thế mà nhạc sỹ Trần Hoàn dựa trên ví giận thương đã viết ca khúc được nhiều người yêu thích.

Anh yêu em như yêu câu dân ca
Giận mà thương sao mà da diết thế
Ôi câu ca nặng tình nặng nghĩa
Có lúc nào em giận anh không?

NSƯT Song Thao đã 84 tuổi vẫn thể hiện ngọt ngào, xúc động ca khúc “Trông cây lại nhớ đến Người” tại buổi Giao lưu thơ, nhạc của CLB Nữ văn nghệ sĩ Nghệ An. Ảnh: Võ Khánh

Trong lực lượng văn nghệ quần chúng khi biểu diễn hoạt ca hoạt cảnh dân ca, thế nào cũng có làn điệu giận mà thương. Giận mà thương đã có sức lan tỏa rộng lớn, là hành trang vào đời cho những ai yêu dân ca, yêu ví giặm quê mình, và không ít người đã thành danh trong hoạt động chuyên nghiệp góp phần vào kho tàng bảo tồn và phát huy dân ca xứ Nghệ được Unesco vinh danh ví giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Một điều bất ngờ nữa, chính làn điệu “Giận mà thương” đã chắp cánh cho ca khúc rất xúc động về Chủ tịch Hồ Chí Minh “Trông cây lại nhớ đến Người”. Chuyện là, những năm Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, Khu IV là vùng tuyến lửa, mà Nghệ An là cửa ngõ cho vùng tuyến lửa đó với khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom”. Tất cả văn nghệ sĩ Trung ương được lệnh vào Khu IV biểu diễn phục vụ, sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật phục vụ tại chỗ cho quân và dân vùng tuyến lửa. Đợt này, nhiều nhạc sĩ đã thâm nhập thực tế trên bom dưới đạn viết các tác phẩm âm nhạc như: Tiếng hò trên đất Nghệ An của nhạc sĩ Tân Huyền, Giữ biển trời Xô viết Nghệ An của nhạc sĩ Hồ Bắc, Ta lại đào công sự của Nguyễn Đức Toàn, Tiếng hát sông Lam của Đinh Quang Hợp. Còn ở địa phương, Người anh hùng trên sông Bến Thủy của nhạc sĩ Văn Thế, Hơi công nông binh Nghệ An của nhạc sĩ Thanh Tùng… Tất cả đã toát lên một khí thế hào hùng sục sôi vùng tuyến lửa Nghệ An, quê hương Xô viết, quê hương Bác Hồ.

Tiếp sau đó đầu năm 1969, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam và nhạc sĩ Nguyễn Đình Tấn giảng viên âm nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam vào dự Đại hội quyết thắng Quân khu IV tổ chức tại huyện Tân Kỳ (cũ), tỉnh Nghệ An, đồng thời về làm việc và thăm Tỉnh ủy, được đồng chí Võ Thúc Đồng, Bí thư Tỉnh ủy tiếp đón đoàn (cơ quan Tỉnh ủy lúc bấy giờ sơ tán tại xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương) cùng lúc đó tôi được Trưởng ty Văn hóa Trần Nguyên Trinh điều đích danh đi với đoàn, về lãnh đạo tỉnh có anh Phạm Đình Nguyên, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cùng đi.

Chương trình nghệ thuật “Ví, giặm hồn quê tỏa sáng” tại lễ kỷ niệm 10 năm Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ảnh: Võ Khánh

Sau khi nghe đồng chí Bí thư tỉnh ủy kể chuyện cho 2 nhạc sĩ nghe về mảnh đất, con người vùng tuyến lửa anh hùng này. Sang buổi chiều tôi thấy anh Hà Văn Tải, Chánh Văn phòng bố trí xe để đoàn đi thực tế, tôi có trách nhiệm dẫn đoàn đi. Trước tiên chúng tôi đến Phà Bến Thủy, đến Phà Hoàng Mai, cầu Cấm, vùng biển Cửa Lò, Cửa Hội, và sau đó đến những vùng có phong trào hát dân ca như xã Diễn Minh, Diễn Bình của huyện Diễn Châu, xã Thanh Lĩnh, Cát Văn huyện Thanh Chương, Văn Sơn, Yên Sơn huyện Đô Lương. Đến đâu đoàn cũng được địa phương đón tiếp nồng hậu, hát dân ca cho đoàn nghe và cung cấp tư liệu cho 2 nhạc sĩ. Chúng tôi lại trở về nhà khách Tỉnh ủy.

Một buổi chiều trời yên ả, không có tiếng máy bay gầm rú, trước sân hội trường Tỉnh ủy 4 chúng tôi ngồi hàn huyên kể chuyện chuyến đi vừa qua, nhân thế tôi hát một số làn điệu dân ca cho các anh nghe, hát đến làn điệu Giận mà thương tôi thấy anh Đỗ Nhuận hơi ngạc nhiên, bảo hát lại và đưa máy ghi âm ra ghi, đồng thời nhận xét cái hay, cái đẹp của làn điệu này: rất gọn gàng, chặt chẽ như dân ca quan họ Bắc Ninh. Tôi thấy anh tỏ ra rất tâm đắc và hết lời khen ngợi.

Kết thúc chuyến đi, lãnh đạo tỉnh tiễn hai nhạc sĩ lên xe về Hà Nội.

Ngày 03 tháng 9 năm 1969, cả đất trời như tối sầm lại, loa phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi một giọng đọc trầm buồn, nghẹn ngào của phát thanh viên thông cáo đặc biệt của Bộ Chính trị: Bác Hồ muôn vàn kính yêu của nhân dân Việt Nam đã đi xa, toàn Đảng, toàn dân không khỏi bùi ngùi, xúc động thương nhớ Bác.

Trong một thời gian ngắn sau đó, các tác phẩm văn học nghệ thuật ca ngợi công lao trời biển của Người, và nỗi tiếc thương Bác vô hạn ra đời. Bài Trông cây lại nhớ đến Người – cải biên dân ca và đặt lời nhạc sĩ Đỗ Nhuận cũng được sáng tác vào thời điểm nay. Nghệ sĩ Song Thao (Đoàn Văn công nhân dân nghệ An) – người con đất Nghệ là người đầu tiên hát ca khúc này trên Đài Tiếng nói Việt Nam những ngày đất nước chìm trong nỗi đau Bác mất.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã dùng làn điệu giận thương có ly điệu một vài chỗ và đặt lời cho bài hát làm nên một ca khúc rất xúc động và đi vào lòng công chúng qua nhiều thế hệ:

Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa
Bác tuy già nhưng mạnh khỏe
Vì thương dân Bác dặn dò cặn kẽ
Ươm mầm xanh ta như mẹ thương con
Cả một đời vì nước vì non (2 lần)
Bác vẫn còn như điệu hò ví giặm
Dòng sông Lam, núi Hồng đỡ hằn
Chào quê hương Bác dặn lại rồi.

Có thể nói. làn điệu Giận mà thương và ca khúc Trông cây lại nhớ đến Người là đứa con sinh đôi cùng một bầu sữa mẹ, hai tác phẩm còn sống mãi với thời gian, đặc biệt là trong lòng người dân xứ Nghệ – quê hương của Người.

Nhạc sĩ Văn Thế