Emily Dickinson (1830-1886) là một nhà thơ nổi tiếng của văn học lãng mạn Mỹ. Phần lớn tác phẩm của bà không được xuất bản và không được biết đến trong suốt cuộc đời, nhưng hiện nay chúng được coi là tác phẩm kinh điển. Thơ của bà có một phong cách độc đáo, trí tuệ sắc bén và sự dí dỏm. Dickinson sinh ra ở Amherst, Massachusetts trong một gia đình danh giá. Sau khi học tại Học viện Amherst trong bảy năm, bà theo học ngắn hạn tại Trường Nữ sinh Mount Holyoke trước khi trở về nhà ở Amherst. Mặc dù Dickinson là một nhà văn sung mãn, nhưng trong suốt cuộc đời bà, chỉ có 10 trong số gần 1.800 bài thơ của bà được xuất bản. Những ấn phẩm đó đã bị chỉnh sửa nghiêm ngặt để phù hợp với các quy ước thơ ca của thời đó. Ngày nay, thơ của bà được công nhận là mang tính đột phá với những dòng ngắn gọn, sắc sảo, mô tả súc tích và việc sử dụng vần xiên hoặc vần lệch. Thơ của bà chủ yếu đề cập đến thiên nhiên và sự chết chóc. Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của bà là một chớp sáng chấp chới, rực sáng trong lịch sử văn học Mỹ. Người khen hết lời, người chê cũng lắm nhưng bà là một trong những nhà thơ được bạn đọc thuộc lòng và phổ biến nhất ở Mỹ. Thơ của bà buồn, đến tận cùng của cô đơn:
“Một mình em một lá cỏ ướt trong sương”
(I’m only with one grass leaf in dew)
Thơ bà không viết về những cái cao sang mà là sự rung động trước những cái gần gũi, đời thường bằng một thứ ngôn ngữ giản dị. “Emily Dickinson đưa xoong chảo nồi niêu, tạp dề vào thơ và thành thơ”. (Lê Đình Cúc, Lịch sử vă học Mỹ – tái bản, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017. Tr 121).
Với khả năng phản ánh đối tượng miêu tả và khả năng thổi tâm hồn mình vào làm cho sự vật được miêu tả lung linh hơi thở của thời đại, mọi điều mà E. Dickinson được chứng kiến, qua bà đều thành thơ. Có khi thành thơ sau một thời gian dài, rất dài nó nằm im trong kỷ niệm nhưng khi có điều kiện hồi tưởng lại, nhớ lại, qua tư duy nghệ thuật của mình, kỷ niệm đó trở thành thơ. Bà cũng là nhà văn sáng tạo nên thể loại thơ mới: Thơ – nhật ký.
Phải chăng tư duy tình cảm và nghệ thuật hay môi trường hoạt động nghệ thuật của bà vừa gắn bó liên hệ với đời sống văn học nghệ thuật của thời đại vừa sống cô đơn? Tư duy nghệ thuật mà bà có được là do tài năng bẩm sinh, do được hoàn toàn độc lập suy ngẫm và sáng tạo nên. Với bà, thơ chẳng là gì cả, do quan niệm như vậy nên lúc còn sống bà không xuất bản tập thơ nào. Hàng nghìn bài thơ có được hôm nay là do người khác nhặt nhạnh khắp mọi xó xỉnh trong nhà, trong ngăn kéo, trong túi áo quần, dưới nệm giường của bà mà có.
Ông cụ thân sinh ra Emily là người mẫn cán và mẫu mực. Với Emily, cha bà là con người vĩ đại, đáng kính. Nhiều lần ông đã xuất hiện trong thơ của con gái với hình ảnh của Đức Chúa. Thậm chí, bà còn cho rằng cha mình còn vĩ đại hơn cả Chúa:
“Cha bước đi giống Cromwel
Khi người tìm được lửa.”
Hơn thế, qua những bài thơ viết cho cha, bà cảm nhận rất rõ vẻ dịu dàng ẩn giấu trong con người có chút ghê gớm của ông (mặc dù ông hết lòng yêu thương con cái). Sau khi cha qua đời (1874), mỗi lần nhắc đến cha, Emily lại bằng những vần thơ thổn thức khôn nguôi.
Mẹ của bà, Norcross Dickinson, trái lại, là một người đàn bà lạnh lùng và ích kỷ, chẳng quan tâm đến con cái nhiều. Đã có lần bà nói: “Tôi chưa bao giờ có mẹ… hồi còn bé, tôi thường chạy về mách cha khi có chuyện gì xẩy ra với tôi”. Cô em gái Austim Lavinia là người đã phát hiện ra 1.800 bài thơ (thật là con số kinh khủng) mà Emily đã nhét vào ngăn kéo bàn làm việc. Cũng chính Lavinia tập hợp sửa chữa và xuất bản lần đầu tiên các tập thơ của Emily Dickinson.
Nhiều nhà phê bình, nghiên cứu đã mổ xẻ, thậm chí có những công trình nghiên cứu đồ sộ về thơ Emily Dickinson nhưng vẫn chưa ai giải thích thấu đáo được tác phẩm và cuộc đời bà. Thậm chí những nhà viết tiểu sử giàu kinh nghiệm vẫn chưa viết được tiểu sử Emily Dickinson. Ai là người tác động lên tài năng siêu việt của bà, ai là đối tượng cho nguồn cảm hứng dồi dào và bất tận của bà? Bà yêu nhiều nhưng chưa có một quan hệ nào sâu sắc tạo nên hạnh phúc và đau khổ của tình yêu, thậm chí chưa thể gọi là mối tình được. Bạn bè, nhất là bạn khác giới của bà rất ít.
Với hàng trăm bài thơ tình đằm thắm rạo rực, say sưa đến tận cùng của nỗi đau chia xa đổ vỡ, với những “đối tượng” khác nhau vậy biết tìm ai là người gây nên hiện tượng kỳ diệu Emily Dickinson?

Cuộc đời đầy bí hiểm và hấp dẫn của Emily có bóng dáng của Judge Ots, Root, Jame Humphrey và Wadsworth, nhưng ai là người tạo nên thế giới riêng trong tâm hồn của bà? Vấn đề không đơn giản, không phải vì thiếu bằng chứng đầy đủ mà không hiểu bản chất của câu hỏi này. Chính vì vậy, thật khó đi sâu khám phá nguồn thơ tình say đắm của Emily (có đến hàng trăm bài thơ hay) là bắt nguồn từ người nào. Không giao tiếp, không hòa đồng với xã hội mà tự mình nghiền ngẫm, suy tư để rồi nói lên được những vấn đề của thời đại mà nhân loại quan tâm được như bà thật khó giải thích. Trong những bài thơ của bà còn có bóng dáng một người trong số ít ỏi những người có quan hệ với Emily Dickinson, một người đặc biệt giúp Emily giải phóng sức tưởng tượng cực lớn để cho ra đời những bài thơ phản ảnh sự khao khát ấy là mục sư Revend Charles Wadsworth.
Năm 1860 khi ông đến thăm Emily lần đầu và gặp Emily, nàng đã yêu ông. Hai năm sau ông phải chuyển sang nhà thờ Calvary ở San Francisco để hành lễ nên không còn điều kiện gần gũi Emily. Một cú sốc thật sự đối với tình cảm của một cô gái mới yêu lần đầu với đúng nghĩa của tình yêu, Emily như bị giáng một đòn mạnh, sự choáng váng đó đã cho ra đời nhiều bài thơ hay. Năm 1861, Emily viết 80 bài thơ, năm 1862 bà viết 366 bài, năm 1863 có thêm 150 bài, năm 1864 bà lại viết 100 bài thơ nữa. Thật là con số khổng lồ đối với một nhà thơ với mọi cung bậc của tình cảm được đẩy lên đến tột cùng.
Có lẽ sự ra đi của Wadsworth đã làm bùng lên cảm hứng thi ca của Emily. Nỗi đau mất mát, giống như chất kích thích những tình cảm mạnh mẽ khác của bà đã dẫn tới cảm hứng dâng trào vào năm 1862. Wadsworth chính là cảm hứng thơ cho những bài thơ nói về nỗi lo sợ, mất mát như Em đi tìm tên anh, Tôi khiếp sợ con chim cổ đỏ, Tôi ghen với biển cả, Với nơi đâu anh đến, Cuối cùng sẽ là mùa hạ, Sau nỗi đau lớn, Cảm giác lớn lạ đến,… Một số trong những bài thơ của Emily đã trở thành bài thơ tình bằng tiếng Anh hay nhất thế giới.
Cuối những năm 1870, gần đến tuổi 50, Emily Dickinson lại choáng váng trước một cơn sét ái tình mới. Bà yêu say đắm Otis Philip Lord, một luật sư tiếng tăm, góa vợ. Sự chênh lệch về tuổi tác (Otis Philip Lord nhiều hơn bà 18 tuổi) và hoàn cảnh gia đình hai phía ngăn trở mối quan hệ này nhưng không ngăn cản nổi hai người. Chính những yếu tố này cũng góp phần tạo nên đặc điểm thơ ca của bà là tính trào lộng, châm chọc và giễu cợt tất cả mọi cái bà nhìn thấy.
“Một nhà thơ trào phúng lập dị” là tên gọi nhiều người đặt cho bà. Không chỉ những người bạn (qua thư từ và thơ) mà ngay cả những người xuất bản thơ của bà cũng rất ít khi được gặp mặt bà. Quanh năm bà ẩn mình trên gác ở phố Main Street. Bà viết rồi lại xóa bỏ và viết tiếp. Bà chọn từ ngữ kỹ càng, viết xong nhét vào ngăn kéo, thỉnh thoảng lôi ra đọc và chữa rồi quên hẳn đi, có bài chẳng bao giờ bà nhớ nữa. Bà học ở đâu mà thành tài? Đến nay vẫn là câu hỏi lơ lửng.
Những góc cạnh trong tâm hồn, ngoài tình yêu còn có một vương quốc nữa trong thơ Emily là tôn giáo. Trước hết, Emily là người có nhiều nghịch lý trong tâm thức tôn giáo. Những buổi thuyết giáo, đám cưới, đám rước Thánh, đám tang đều có trong thơ bà với ngữ cảnh mới, trở thành những hình ảnh ẩn dụ cho đời sống tinh thần. Câu thơ: “Tôi cảm thấy như có đám tang trong óc vậy” của Emily Dickinson sau này sẽ phảng phất trong thơ của một nhà thơ Việt Nam là Hàn Mặc Tử. Thơ bà trở thành một hình thức cầu nguyện và thánh ca ở các nhà thờ Mỹ là vì vậy.
Từ năm 1929 đến 1955 có đến 12 năm liền tái bản bổ sung liên tục nhưng vẫn chưa có tập thơ nào của bà là hoàn chỉnh. Người ta vẫn phát hiện ra thơ bà còn vương vãi, lẫn lộn đâu đó khắp nơi với nhiều dị bản khác nhau.
Năm 1960, Thomas H. Johnson xuất bản và bổ sung thêm nhiều bài nữa. Sau đó phải đến tập Mùa gặt cuối cùng tập hợp thêm gần 600 bài thơ của Emily, lúc này bà mới được xem là nữ nhà thơ tinh tế trong vẻ thô lỗ, ương bướng, toát lên khả năng sáng tạo tuyệt vời, tạo ra một thế giới trần gian và thiên đường với một vẻ độc đáo với những ý tưởng vô cùng sâu sắc.
Lê Thị Hạnh Liên














