Trong cơn xoáy lịch sử đất nước những năm đầu thập kỷ thứ 4 của thế kỷ XX, khi Pháp suy, Nhật vào, xã hội rối bời và nhiều đường lối cứu nước tranh biện gay gắt, luật sư trẻ Phan Anh trên báo Thanh Nghị kêu gọi một chuẩn mực giản dị mà quyết liệt: Có thể bất đồng về phương cách, nhưng phải đồng lòng về mục đích quốc gia. Bài xã luận Dị kiến, đồng tâm (Thanh Nghị, số 59, 1944) biến “đoàn kết” từ khẩu hiệu cảm tính thành kỷ luật đạo đức -chính trị của trí thức: Tranh luận để xây dựng đất nước, không để triệt hạ nhau, giữ mẫu số chung cho tư cách và quyền lợi quốc gia.
1. Đầu năm 1944, Đông Dương đang ở thế “một cổ hai tròng”: Pháp đã suy, Nhật đã vào, chủ quyền Việt Nam vẫn nằm trong tay Nhật – Pháp. Trong lòng xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều xu hướng cứu nước khác nhau: Xu hướng hiến định – đòi lập hiến, đòi nghị viện; xu hướng bạo động – vũ trang cách mạng; xu hướng dựa vào Nhật để “đuổi Pháp”; xu hướng chờ Đồng Minh thắng để “dựa Mỹ – Anh – Trung Hoa” mà đòi độc lập. Các xu hướng này đã tranh luận gay gắt, thậm chí mạt sát, triệt hạ nhau trên các diễn đàn, báo chí.
Trong bối cảnh đó, năm 1941, các trí thức trẻ yêu nước, vốn là bạn học trường luật là Vũ Văn Hiền, Phan Anh, Vũ Đình Hòe… đã cùng nhau chủ trương xuất bản báo Thanh Nghị. Về sau có sự tham gia của Huỳnh Thúc Tấn và Lê Huy Vân. Thanh Nghị là tiếng nói của giới trí thức trẻ yêu nước đang khát khao tìm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Báo Thanh Nghị “là một phương tiện thực hiện phương thức hoạt động của một số trí thức yêu nước phần nhiều còn ở tuổi thanh niên, mới qua quãng đời sinh viên, và bước vào cửa của cuộc sống xã hội, trong những năm Đại chiến thế giới II. Họ muốn làm một việc có ích để phụng sự Tổ quốc trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng nhưng lại là cơ hội ngàn năm có một. Trong khi còn bỡ ngỡ, mà tâm trạng thì rối bời, họ cảm thấy chưa có điều kiện khách quan cần và đủ để lao ngay vào hành động trực tiếp chiến đấu với kẻ thù dân tộc. Cho nên họ rủ nhau, trước còn ít người, rồi dần dần nhiều lên, làm báo, tạm thời hãy làm báo để rèn chí luyện gan, tích lũy liến thức vào cuộc đấu tranh dân tộc, tự trang bị thế và lực chuẩn bị bước vào hành động trực tiếp, đồng thời nghiên cứu một số vấn đề có quan hệ đến tương lai đất nước.” (Vũ Đình Hòe – Hồi ký Thanh Nghị).
Ra đời như một diễn đàn học thuật – chính luận của giới trí thức, Thanh Nghị có nội dung khá phong phú, cấp tiến và là một bước tiến vượt bậc về tư tưởng về văn học, văn hóa, học thuật, luật pháp… Thanh Nghị ra số đầu vào ngày 15/5/1941, số cuối cùng ra ngày 11/8/1945, tổng cộng được 120 số. Khởi đầu là nguyệt san (1941), tăng nhịp lên bán nguyệt san (1942) và ra hàng tuần đầu 1944. Thanh Nghị quy tụ các cây bút luật, văn, sử, chủ trương phụng sự công ích. Trong điều kiện bị kiểm duyệt khắt khe, Thanh Nghị vẫn giữ không gian tranh luận ôn hòa, đề cao tranh biện mà không phá vỡ đồng lòng.
2. Giữa những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa, trước buổi bình minh Cách mạng tháng Tám, trong lúc phong trào yêu nước đang có những tiếng nói khác nhau, có một giọng nói bình tĩnh nhưng kiên quyết vang lên: “Có thể khác ý nhau, nhưng không thể khác lòng đối với nước nhà”. Câu nói ấy không phải khẩu hiệu từ một tổ chức cách mạng bí mật, mà đến từ một tờ báo trí thức hợp pháp: Thanh Nghị – và từ một luật sư trẻ tuổi: Phan Anh.
Bài xã luận Dị kiến, đồng tâm, đăng trên Thanh Nghị số 59 năm 1944, có chú giải tiếng Pháp “D’opinions divergentes mais d’un même sentiment” (Ý kiến có thể khác nhau, nhưng cùng một tình cảm chung), đã đặt vấn đề: Làm thế nào để những người Việt Nam có tư tưởng, đường lối, lập trường khác nhau không tự hạ thấp, triệt tiêu nhau ra mà phải cùng hướng tới lợi ích dân tộc ngay trước thời điểm lịch sử mở ra cơ hội độc lập sau Thế chiến II. Nếu người Việt xem nhau là phản bội chỉ vì bất đồng đường lối, dân tộc sẽ tự làm tan đội hình trước khi có cơ hội giành độc lập và đàm phán với tư cách quốc gia hậu chiến.

Trong bài xã luận này, Phan Anh đã bày tỏ ba quan điểm, hay là ba việc cần làm để đoàn kết lực lượng trí thức lúc bấy giờ vì mục đích phụng sự đất nước. Trước tiên là bình thường hóa bất đồng. Tầng lớp trí thức Việt Nam trước 1945 không phải một khối thống nhất. Họ đến từ các môi trường khác nhau: Có người là công chức trong bộ máy bảo hộ, có người là luật sư, giáo sư, bác sĩ Tây học; có người đã đi với Việt Minh; có người nhìn Nhật như “cơ hội giải phóng Á châu”; có người đặt niềm tin vào con đường lập hiến và nghị viện. Họ đã không có được tiếng nói chung, duy nhất. Phan Anh không hề né tránh điều này. Ngay ở tiêu đề, Dị kiến, đồng tâm, ông chấp nhận sự tồn tại của “dị kiến” – khác biệt lập trường, khác biệt chiến lược, khác biệt phương tiện. Ông không tô hồng bằng một thứ “đồng thuận giả tạo”. Ông thẳng thắn thừa nhận như một khách quan là người Việt sẽ tranh cãi, và thậm chí phải tranh cãi, về con đường đi tới chủ quyền. (“Ý kiến có thể khác nhau…”). Điều mới ở đây là cách ông quan niệm: Khác ý kiến không đồng nghĩa với phản quốc. Đây là điểm mà giới trí thức quốc gia chủ nghĩa lúc ấy cực kỳ nhạy cảm, ai cũng quan ngại khi bị “khép tội” phản quốc. Ở Hà Nội năm 1944, việc gán nhãn, quy chụp cho nhau như “theo Nhật”, “theo Pháp”, “theo cộng sản”, “ảo tưởng hiến pháp”, “ảo tưởng nghị viện”… diễn ra rất phổ biến, và những nhãn/mũ đó không chỉ là mạt sát cá nhân, nó có thể trở thành cái cớ để thủ tiêu uy tín của nhau trong mắt quần chúng. Phan Anh muốn phá cơ chế đó. Ông viết: “Dị kiến không được biến thành cái cớ để nghi kỵ nhau là phản quốc”. “Chính kiến khác nhau nhưng vẫn kính trọng nhau, đó là một điều kiện tối cần trong sự tranh biện chính trị”. Đây không phải lời kêu gọi lịch sự xã giao. Với Phan Anh, đó là một quy tắc sinh tồn chính trị. Nếu mọi khác biệt đều bị chụp mũ thành cáo buộc “bán nước” thì không phe nào còn đủ tin phe nào để hợp tác, và khi thời cơ chính trị đến, người Việt sẽ chỉ có các nhóm rời rạc chứ không có một mặt trận dân tộc thống nhất.
Thứ hai là định nghĩa lại khái niệm “đồng tâm”. “Đồng tâm”, theo cách hiểu thông thường, dễ bị diễn giải là “im lặng và nghe theo một người”. Phan Anh bác bỏ cách hiểu đó. “Đồng tâm”, theo ông, không phải là đồng thanh hô khẩu hiệu, không phải thủ tiêu tranh luận, càng không phải phục tùng vô điều kiện một lãnh tụ hay một phe. “Đồng tâm”, ở ông, là cùng giữ một mẫu số chung là độc lập dân tộc, quyền tự quyết, và lợi ích lâu dài của xứ sở. Nghĩa là: Anh có thể tin vào nghị viện, tôi có thể tin vào khởi nghĩa vũ trang; anh muốn dựa Nhật, tôi muốn dựa Đồng Minh…; nhưng tất cả những chọn lựa chiến thuật đó đều phải quy về cùng một mục đích chiến lược là một nước Việt Nam có tư cách chính trị, có thể ngồi ngang hàng trên bàn thương lượng sau chiến tranh.
Ta thấy rõ ông đã suy nghĩ như một nhà thương thuyết tương lai. Và thực tế lịch sử xác nhận điều này. Chỉ hai năm sau, năm 1946, ông đã trở thành thành viên trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (tháng 3 đến 11/1946), và tham gia phái đoàn đàm phán ở Fontainebleau với Pháp vào mùa hè 1946. Ở đó, ông không nói bằng ngôn ngữ “tiêu diệt nhau trong nước”, mà nói bằng ngôn ngữ “tư cách quốc gia trên bàn đàm phán”. Nói cách khác: “đồng tâm” không phải một khẩu hiệu mà là điều kiện cần thiết để người Việt có thể bước lên vũ đài quốc tế với tư cách một tập thể chính trị đủ đoàn kết tối thiểu.
Thứ ba là đặt trách nhiệm lên vai trí thức và thanh niên. Dị kiến, đồng tâm không phải lời kêu gọi quần chúng vô danh. Nó là lời nhắn, là thông điệp rất rõ cho giới trí thức – những người có tiếng nói công khai, có thể viết báo, có thể diễn thuyết, có thể gây ảnh hưởng lên dư luận. Cũng chính nhóm chủ trương Thanh Nghị, chỉ một năm sau, sẽ là lực lượng chính trị quan trọng trong Chính phủ Trần Trọng Kim (tháng 4 đến 8/1945) và trong mặt trận trí thức ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám.
3. Từ rất sớm, Phan Anh đã nói thẳng thắn về nghĩa vụ công dân của trí thức. Trong bài Quan hệ đời công và đời tư của những người có trách nhiệm trong xã hội (Thanh Nghị số 3, 1941), ký bút danh Phan Quân, ông đặt ra ranh giới đạo đức: Ai nhận trách nhiệm trước xã hội thì không còn quyền sống như một cá nhân hoàn toàn riêng tư nữa. Trong bài Thanh nghị (Thanh Nghị số 64, 1944), ông viết về nhiệm vụ của báo chí và trí thức là tạo ra “dư luận sáng suốt”, tức một công luận có lý trí, biết phân biệt lợi ích dân tộc với lợi ích phe nhóm, chứ không phải công luận bị giật dây bằng vu cáo và thù hằn. Đó là một cách khác để nói rằng, trí thức có quyền lên tiếng (Quyền lợi nhà văn, Thanh Nghị số 89, 1944), nhưng quyền đó đi kèm trách nhiệm không đổ dầu vào lửa chia rẽ nội bộ.
Bài Dị kiến, đồng tâm nằm trong mạch đó. Nó yêu cầu giới trí thức không chỉ viết để phê phán nhau mà viết để giữ một cái nền chung cho tương lai đất nước. Ở đây, Phan Anh thể hiện rất rõ quan niệm về “đạo đức ngôn luận”. Đó là có tự do tranh luận nhưng tranh luận phải nhằm xây dựng đất nước, chứ không phải nhằm triệt hạ nhau đến mức không còn chỗ đứng chung.

Nếu ta đọc Dị kiến, đồng tâm và một loạt bài khác của ông cùng thời, như Địa – vị trung – lập (Thanh Nghị số 55, 1944), Địa vị những nước nhỏ sau cuộc chiến tranh này (Thanh Nghị số 71, 1944), Bang giao Hoa – Việt (Thanh Nghị số 95, 1944)… thì thấy Phan Anh có tầm nhìn rất xa. Ông nhìn Việt Nam như một “nước nhỏ” bước ra từ chiến tranh thế giới, phải giành tư cách quốc gia trong một trật tự quốc tế mới. Muốn có tư cách đó, Việt Nam phải thể hiện được: (1) – Nội bộ có khả năng tự tổ chức và tự điều hành, (2) – không bị xé lẻ thành những phe thù nghịch, và (3) – Có ngôn ngữ chính trị hiện đại để nói chuyện với thế giới. Chính vì vậy, thông điệp của ông đi xa hơn chuyện “anh – tôi, phe này – phe kia”. Ông xây dựng một chuẩn đạo đức chính trị là người Việt có quyền lựa chọn con đường khác nhau, nhưng tất cả những con đường ấy phải hướng về một đích chung là một nhà nước Việt Nam hợp pháp, có hiến pháp, có cơ chế đại diện, có bộ máy công vụ chuyên môn, có vị thế đối ngoại độc lập.
4. Cùng với quan điểm này, Phan Anh còn có loạt bài viết về hiến pháp đăng dày đặc trên Thanh Nghị từ 1942 đến 1945. Trong Lập hiến (Thanh Nghị số 12, 1/5/1942) và Hiến pháp và quyền lập hiến (Thanh Nghị số 14, 1/6/1942), ông giải thích rằng nhà nước hợp pháp là nhà nước bị ràng buộc bởi một hiến pháp do quốc dân trao quyền, chứ không phải do một thế lực áp đặt từ trên xuống. Trong Chính thể đại nghị (Thanh Nghị số 24, 1/11/1942) và Quyền hạn của Lập pháp viện (Thanh Nghị số 90, 1944), ông mô tả cơ chế nghị viện, trách nhiệm chính phủ trước cơ quan đại diện dân chúng. Trong seri bài Hiến pháp Trung Hoa (Thanh Nghị, 1943 – 1944), ông dùng trường hợp Trung Hoa Dân Quốc để cho thấy rằng ngay cả một nước Á Đông cũng có thể xây dựng một cơ chế phân quyền, giám sát công vụ, thi tuyển quan chức, phổ thông tuyển cử.
Nếu Dị kiến, đồng tâm thể hiện quan điểm về mối liên hệ hữu cơ giữa đạo đức và chính trị (tinh thần đoàn kết tối thiểu) thì các bài về lập hiến là bàn về thể chế và pháp lý (kiểu nhà nước cần xây dựng). Hai mặt đó ghép với nhau thành một tư duy chính trị chính trị cần có cho trí thức Việt Nam thời kỳ1944 – 1945. Đó là, trước hết, đừng triệt hạ lẫn nhau vì khác biệt. Sau đó, cùng nhau xây dựng một nhà nước có hiến pháp, nghị viện, trách nhiệm chính trị, bộ máy chuyên môn.
Có thể nói, đây là cách ông chuẩn bị cho “liên hiệp dân tộc” trước khi khái niệm “Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến” (tháng 3/1946) ra đời chính thức. Không phải ngẫu nhiên mà chính Phan Anh, người kêu gọi “đồng tâm”, lại được Hồ Chí Minh đưa vào Chính phủ Liên hiệp và giao chức Bộ trưởng Quốc phòng năm 1946, dù ông vốn không phải đảng viên cộng sản mà là một luật sư từng làm Bộ trưởng Thanh niên trong nội các Trần Trọng Kim năm 1945. Việc trọng dụng ấy là sự công nhận rõ ràng rằng tiếng nói “đồng tâm” của ông không phải hô hào, mà là một tầm nhìn chính trị sáng suốt. “Cho nên, nếu cứ chia rẽ về chính kiến thì không đáng lo: Đáng lo là sự chia rẽ vì tư lợi.” (Thanh Nghị, số 59, 25‑3‑1944)
Dị kiến, đồng tâm, có thể nói, là bản tuyên ngôn đạo đức chính trị của giới trí thức Việt Nam thời kỳ tiền Cách mạng tháng Tám 1945. Nó định nghĩa vai trò của trí thức không chỉ là “phê bình chính quyền thuộc địa”, mà còn là kẻ giữ lửa đoàn kết dân tộc trong thời điểm bước ngoặt. Nó bảo vệ quyền bất đồng chính kiến, nhưng đồng thời đặt ra nghĩa vụ chung của những người có học, có tiếng nói công khai, của giới trí thức là khi vận mệnh quốc gia đang đặt lên bàn, anh không được đổ dầu vào ngọn lửa chia rẽ nội bộ chỉ để giành phần thắng trong những tranh cãi trước mắt.
“Có thể khác ý nhau, nhưng không thể khác lòng đối với nước nhà”. Đó là tinh thần, là thông điệp của Phan Anh trong Dị kiến, đồng tâm; là lời kêu gọi khoan dung chính trị nội bộ để giữ lấy cơ hội lịch sử cho dân tộc. Và cũng là lời nhắc rằng đoàn kết, nếu chỉ hiểu là im lặng phục tùng, thì chỉ là vỏ rỗng. Đoàn kết mà Phan Anh đòi hỏi khó hơn nhiều, đoàn kết giữa những người dám nói khác nhau nhưng cam kết đứng cùng một phía lịch sử.
Phúc Vinh















