29.1 C
Vinh
Chủ Nhật, Tháng 4 12, 2026

Đêm ấy nắng to

Hoàng Thụy Anh và hai tập thơ của chị

Trong một lần cà phê, nhìn trời vui vui, tôi hỏi: có phải Hoàng Thụy Anh được sinh ra từ mưa? Không, đêm ấy nắng to… rồi ông (nhà thơ Hoàng Vũ Thuật – bố của Hoàng Thụy Anh) cười sảng khoái, cười nghịch ngợm, gian gian…

Mở đầu bài viết về thơ Hoàng Thụy Anh, tôi muốn kể một câu chuyện lơ mơ, vấn đáp lôi thôi như vậy… không gì khác là muốn bạn vui, vui một cách lơ mơ trước khi đọc gì đó về thơ. Từ lâu (hình như thế) họ mặc định thơ không dành cho số đông, không phù hợp với đời sống thường nhật. Nhưng không, hãy cứ đọc thơ như bất chợt nghe tiếng gà gáy, như mỗi ngày thấy bình minh, như vô tình mà nghe sóng biển, khi ấy thơ trong bạn sẽ bật lên. Hoàng Thụy Anh đã làm thơ như thế, khổ đầu tiên của tập thơ Hoàng Thụy Anh viết:

những chiếc rễ ánh sáng
xuyên qua thành phố
xóa nỗi trống rỗng trên gương mặt người”

Cú đảo ngữ của tồn tại, của luân lý. Rễ là của cây & thường khi cắm xuống đất, cắm xuống bóng tối, ướt ẩm, và không thể định hình. Nhưng ở đây ánh sáng có rễ, đó là một chuyển vị đẹp và trừu tượng, tuy nhiên cách nói của Hoàng Thụy Anh không quá khó với bất kỳ ai, dù nó rất thơ. Bởi vì, ánh sáng mọc rễ vào thành phố, hình ảnh này bất kỳ một người lao động nào ở thành phố, nếu cứ “thức khuya dậy sớm” vì cơm áo sẽ thấy rõ hình ảnh ấy… chỉ là vì bận quá mà họ không nói ra. Thành phố ở đây không phải địa danh cụ thể, đồ rằng nó là không gian sống của cô đơn hiện đại. Ánh sáng không chiếu, không rọi mà nó xuyên. Và việc “xóa nỗi trống rỗng” gợi phép chữa lành. Thơ đôi khi làm được những điều ngoài chức năng của nó.

Hoàng Thụy Anh yêu, cần, trân trọng thiên nhiên như một trường năng lượng sinh nở, và ban mai, và chiều hôm tự nó thốt lên: “mỗi bước đi/ nở những hạt huyền diệu/ trong khu vườn gió nắng và bầy chim sâu”. Tôi thích con “chim sâu” – một chi tiết nhỏ, một cách thành thật với cảm xúc/ chữ/ nghĩa. Không là con chim trời vu vơ, mà là chính danh một loài cụ thể, nhỏ bé, chăm chỉ. Nó làm cho bài thơ không bị trừu tượng hoá… cố ý, hay vô tình, nhưng Hoàng Thụy Anh đưa thơ gần lại với đời thường, với cảm quan bình dân tinh khiết. Hoặc một cách bật thốt khác, rất thơ, nhưng lại rất nhôm nhựa đời thường: “bầu trời nhàn rỗi/ chẳng biết làm gì ngoài mênh mông”. Câu thơ đạt đến hơi thở của thiền định/sư: Bầu trời, cứ thế, chả phải làm gì – ngoài việc là chính nó. Hoàng Thụy Anh đã bâng quơ nói, nhưng có gì đó gần với Lão – Trang: tồn tại không cần lý do. Hoặc “Đường lên trời chỉ là ước lệ huyễn hoặc”. Đây là một câu lật, Thụy Anh vừa xây dựng ánh sáng, dựng trời, vẽ mênh mông… rồi lập tức phá vỡ bằng chữ “ước lệ” chẳng khác gì kéo toàn hệ siêu hình về mặt đất. Hãy cứ lùi lại một bước, bạn sẽ thấy rõ hơn bóng mình, thơ hóa đời thường không có gì lạ, khác chăng mỗi người một cách thốt lên: “tóc em những đường nắng/ mắt em những đường mưa” hoặc là: “mỗi khi em viết/ em đừng nhìn về phía ấy/ chỉ riêng bóng anh thôi/ bài thơ đã chật rồi”. Và đây nữa: “Nhặt lấy ngữ pháp của cỏ”. Là một trong những câu thơ tôi thích nhất trong tập thơ, ngẫm nghĩ rồi cười một mình khi tự vấn đáp: Ngữ pháp của cỏ là gì? Có phải: cúi xuống, trồi lên, xanh, vàng, nâu, lặng, không tranh luận & không cần biên giới? Tôi không chắc Hoàng Thụy Anh đến với thơ như người ta đến với vườn chữ, ở đó nhiều màu đèm đẹp. Nhưng tôi chắc (chủ quan quá không?) Hoàng Thụy Anh thốt ra những chiêm ngấu đời thường bằng thứ ngôn ngữ kiệm âm tiết nhưng đủ gợi, và tôi gọi đó là thơ. Giống như: “không ai có thể chạy ra ngoài cái bóng”. Đây là một chân lý hiện sinh. Cái bóng là phần tối, là bản ngã, là lịch sử, là vô thức. Theo tâm lý học, ta có thể liên tưởng đến khái niệm “Shadow” của Carl Gustav Jung – phần bị che giấu nhưng cấu thành bản thể… “nếu bạn đoạn tuyệt cái bóng/ thế giới này sẽ tan biến” thế có phải là phủ nhận phần tối là phủ nhận toàn bộ thực tại? Chưa kịp hỏi Hoàng Thụy Anh thì cô ấy đã trả lời: “nếu bạn soi vào cái bóng/ tâm hồn bạn sẽ không ngừng tái sinh”. Thơ rất thơ, không chỉ thế mà nó như một tuyên ngôn của sự tự nhận thức. Bởi bạn biết đấy: Bạn và cái bóng một mà nhiều hơn một. Mỗi người là một thế giới, con người luôn đa tầng. Bóng không chỉ là bản sao, nó là cái cho ta thấy chính mình trong từng khoảnh khắc.

Hoàng Thụy Anh và hai tập thơ của chị

Tôi không muốn trích dẫn nhiều thơ trong tập, bởi như thế là áp đặt cái hay, áp đặt thẫm mỹ người đọc. Chỉ là những trích dẫn cần để nhìn nhận thơ Hoàng Thụy Anh theo cái nhìn của một người đọc thông thường. Và rồi tôi thấy Hoàng Thụy Anh từ người viết phê bình đến người làm thơ là một dích dắc về ngôn ngữ, về suy tưởng, về logic không thể tách rời.

Trong trường văn chương đương đại Việt, Hoàng Thụy Anh được cộng đồng văn chương biết đến trước hết là một nhà phê bình có sức viết mạnh, chữ nghĩa dồi dào, một người đi vào văn bản bằng lý thuyết, bằng thao tác khái niệm, bằng tư duy phân tích sắc lạnh nhưng không vô cảm. Viết phê bình với Hoàng Thụy Anh không phải là diễn giải, càng không phải là phán xét, đó là một hành vi đọc chủ động, nơi lý thuyết được kích hoạt bởi trực giác, nhạy cảm văn chương, và văn chương được soi rọi bằng nền tảng tri thức. Chính vì vậy, khi đọc thơ Hoàng Thụy Anh, người ta không thể (và không nên) tách rời thơ khỏi căn cước phê bình của chị. Nhưng cũng không thể giản lược thơ Hoàng Thụy Anh như một (sản phẩm phụ) của phê bình. Thơ, ở đây, không phải là sự nghỉ ngơi sau tư duy, mà là một hình thức khác của tư duy. Nếu phê bình là tư duy diễn nghĩa, thì thơ là tư duy bằng cảm thấy, bằng ám ảnh, bằng những lấp lánh của mảnh vỡ ngôn ngữ. Hai tập thơ “Người đàn bà sinh ra từ mưa” và ‘Thơm từ nỗi đau” cho thấy rõ điều đó. Chúng không phải là hai chặng tách biệt, mà là hai “chiếu nghỉ” của một cái cầu thang đang đi lên. Từ cái nhìn nữ tính, suy niệm, đến trải nghiệm được mất, bệnh tật, nỗi đau, va chạm, lật trở trong đêm, cọ vào nhau mà thành ánh sáng. “Người đàn bà sinh ra từ mưa” ngay từ nhan đề ta đã thấy một lựa chọn biểu tượng mang tính triết học. “Mưa” ở đây không đơn thuần là hiện tượng tự nhiên, nó là môi trường sinh thành, là trạng thái trung gian giữa trời và đất, giữa hữu hình và vô hình. Người đàn bà sinh ra từ mưa vì thế không mang một lý lịch rõ ràng, không có một “điểm gốc” xác định. Nàng là sản phẩm của sự mơ hồ, của chuyển động, của liên tục tan – hợp. Thơ Hoàng Thụy Anh thường không triển khai theo lối tự sự hay biểu cảm tuyến tính. Chúng được cấu trúc như những khối liên tưởng rời, đôi khi tưởng như rời rạc, hụt hẫng nếu đọc lướt. Nhưng chính ở đó, kỹ thuật thơ của Hoàng Thụy Anh bộc lộ rõ: bố cục mở, phi trung tâm, nơi ý nghĩa không nằm ở một câu thơ “đinh”, mà ở khoảng trắng giữa các câu, các khổ, ở sự cộng hưởng ngầm giữa hình ảnh và cảm giác. Và, quan trọng nhất (theo tôi) sự đồng sáng tạo của người đọc vì sự gợi của những khoảng trắng ấy. Hoàng Thụy Anh không kể chuyện người đàn bà. Chị để người đàn bà hiện lên qua vệt mưa, qua bóng nước, qua âm vang của những chuyển động nhỏ. Thơ vì thế mang dáng dấp của hội họa trừu tượng, ngẫu hứng chữ nghĩa một cách có ý thức và hoàn toàn kiểm soát được hành vi tung/hứng chữ. Ở đây, ta có thể nhận ra ảnh hưởng của tư duy hậu cấu trúc (post-structuralism), nơi chủ thể không còn là trung tâm cố định. Người đàn bà trong thơ Hoàng Thụy Anh không nói về mình, mà nàng được gợi ra qua những mảnh ngôn ngữ, qua sự trượt nghĩa liên tục. Điều này khiến thơ Hoàng Thụy Anh trở thành một không gian đọc đòi hỏi sự tham dự tích cực của người đọc. Đọc thơ như đọc bóng, đọc mặt sau của văn bản, như người dò tìm mỏ, kiên nhẫn đào sâu, quan sát kỹ từng lớp, tuyển quặng, lọc bỏ tạp chất để giữ lại tinh chất.

Một trong những đặc điểm nổi bật trong thơ Hoàng Thuỵ Anh là “kỹ thuật liên tưởng rời”, hay có thể gọi là liên tưởng “nhảy cóc”. Các hình ảnh trong bài thơ không nối với nhau bằng quan hệ nhân – quả hay thời gian tuyến tính, mà bằng “trường cảm giác”. Một hình ảnh gọi ra hình ảnh khác không vì logic, mà vì độ rung cảm xúc tương đồng tần số. Kỹ thuật này dễ gây cảm giác khó, lạnh, thậm chí thiếu cảm xúc với những người đọc quen thơ tự sự hoặc thơ bộc bạch. Nhưng thực chất, đó là một lựa chọn mỹ học có ý thức. Tôi cũng đồ rằng: đôi khi Hoàng Thụy Anh không thể gọi tên, đặt tên đúng, nói về chúng một cách chính xác… khi chúng (là một tứ thơ) bỗng đâu đó vụt hiện. Hoàng Thụy Anh không muốn áp đặt cảm xúc lên người đọc, chị tạo ra một không gian mở, nơi cảm xúc được kích hoạt từ bên trong người đọc, thông qua sự tương tác với văn bản. Mang máng lý thuyết của Jakobson (một công cụ kiến giải về thơ mà Hoàng Thụy Anh đã dùng nó để mổ xẻ về thơ Hoàng Vũ Thuật trong luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thụy Anh, luận văn ấy cũng đã in thành sách và được phát hành bởi Nhà xuất bản Hội Nhà văn) về chức năng thơ (poetic function) có thể được vận dụng để lý giải: thơ Hoàng Thụy Anh nhấn mạnh vào tính tự thân của ngôn ngữ, vào cách các từ vang lên, chạm nhau, phản xạ nhau. Ý nghĩa không nằm ngoài ngôn ngữ mà nó nảy bật trong chính quá trình ngôn ngữ tự vỡ bởi tương tác với ánh sáng từ người đọc. “Thơm từ nỗi đau” có thể hiểu khi thân thể trở thành văn bản, cơn đau cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng là những ký tự? Nếu “Người đàn bà sinh ra từ mưa” là tập thơ của sinh thành và mơ hồ, thì “Thơm từ nỗi đau” là tập thơ của đối diện. Đối diện với thân thể, với bệnh tật, với giới hạn sinh tồn. Việc tập thơ này được viết trong thời gian Hoàng Thụy Anh bị bệnh không chỉ là một dữ kiện tiểu sử, tôi nghĩ nó hơn thế, nó là “chìa khoá đọc” quan trọng. Ở đây, thơ không còn là trò chơi ngôn ngữ thuần tuý. Thơ trở thành “một hình thức tồn tại” một cách để đi xuyên qua nỗi đau mà không bị nó nghiền nát. Điều đáng nói là Hoàng Thụy Anh không viết thơ bệnh tật theo lối than thở hay bi lụy. Ngược lại, chị giữ một “khoảng cách thẩm mỹ tỉnh táo” nơi nỗi đau được quán sát, được chưng cất, và cuối cùng… “thơm”.

Thơ, nói thông thường, ngôn ngữ giản dị nhưng tạo liên tưởng, gợi, ấy là thành công của thơ. Trong “Thơm từ nỗi đau”, Hoàng Thụy Anh đã ý thức hơn để tối giản, gần hơn, ít màu mè hơn, tăng độ nén, tăng sức bật cảm xúc. Mỗi câu thơ như một viên sỏi ném xuống mặt hồ, cứ lặng lẽ, thản nhiên mà tạo sóng. Thân thể trong thơ Hoàng Thụy Anh lúc này không còn là ẩn dụ mơ hồ, mà là một thực thể cụ thể, dễ tổn thương. Rất may, thân thể ấy không bị vật hoá. Nó trở thành một văn bản, nơi mỗi cơn đau là một ký hiệu, mỗi giới hạn là một câu hỏi triết học về tồn tại. Và, Hoàng Thụy Anh không để nước mắt của cơn đau tràn mi, mà kiểm soát nó cái xanh dịu dàng xa xăm của cỏ. Thơ rất đau, nhưng không ủy mị, rất cá nhân, nhưng không khép kín.

Một điểm nhất quán trong cả hai tập thơ là “lối viết có tương tác đa chiều”. Thơ Hoàng Thụy Anh không chỉ là đối thoại với chính mình, mà còn là đối thoại với văn bản khác, với lý thuyết, với người đọc. Chị không chú trọng vào một “sự hiện diện” cụ thể, một cái tôi trung tâm, mà để cái tôi phân mảnh, lan tỏa. Điều này khiến thơ Hoàng Thụy Anh đứng gần với thơ tư duy (poetry of thought) hơn là thơ cảm xúc đèm đẹp thuần túy. Nhưng đó không phải là tư duy khô cứng, đó là tư duy đã được thấm qua màng bọc cảm giác, qua trải nghiệm sống.

Qua “Người đàn bà sinh ra từ mưa” và “Thơm từ nỗi đau”, có thể thấy Hoàng Thuỵ Anh là một trường hợp thơ đáng chú ý của văn đàn đương đại. Thơ chị không dễ đọc, nhưng không phải để làm khó người đọc, nó đòi hỏi một cách đọc khác: đọc chậm, đọc sâu, đọc mỗi lúc chỉ vài bài rồi nghỉ và chỉ nên đọc lúc không có việc gì khác để làm.

Thơ Hoàng Thuỵ Anh loé lên từ những đốm sáng nhỏ giữa đời thường, nhưng chính vì được chưng cất bằng kỹ thuật và tư duy, những đốm sáng ấy không tàn nhanh, mà âm ỉ và đủ ấm cho những ai… Tôi từng được hỏi “thơ có cần hiểu không”, câu trả lời không hoặc có đều có thể chấp nhận. Tuy nhiên, không dễ dàng cho bất kỳ ai đau đáu với thơ. Cũng như câu hỏi “thế nào là thơ hay?”… tôi chỉ mỉm cười, chưa bao giờ tôi trả lời, bởi tôi biết khi họ hỏi, tự họ đã có câu trả lời. Ừ, thì thế, thì thôi!

Hồ Minh Tâm

Hanoi, 24/02/2026

Hoàng Thụy Anh là con gái của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, sinh năm 1978 tại Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (cũ). Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện công tác tại Tạp chí Nhật Lệ và nổi tiếng với nhiều tác phẩm tiểu luận – phê bình văn học sâu sắc, từng đạt nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật. Năm 2017, chị cho ra mắt tập thơ đầu tay là “Người đàn bà sinh ra từ mưa” do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Năm 2025, chị tiếp tục cho ra mắt tập thơ “Thơm từ nỗi đau” – NXB Hội Nhà văn và ngay sau đó tác phẩm này đã giành được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2025 cho hạng mục Thơ.