Đọc xong tập Dấu lặng, không hiểu sao tôi thấy lòng nặng trĩu. Cái dấu lặng đơn mà Cao Xuân Thưởng viết đã trở thành một thứ ám ảnh. Và dường như, dấu lặng đơn ấy là một thứ cảm xúc phủ trùm lên toàn bộ không gian tác phẩm. Một cái tôi trữ tình lặng lẽ quan sát, lặng lẽ phán xét, lặng lẽ trình hiện bản thân trong tất cả những nỗi niềm dường như cũng lặng lẽ. Đấy là một cái tôi thâm trầm và hiền hậu với sự thấu hiểu lẽ đời, với những nhớ nhung, những đau xót, những hoài nhớ, những nuối tiếc. Câu thơ “Chén rượu đầy soi vào dâu bể/ Rưng rưng chạm cùng bóng đêm” có thể nhận được đồng cảm của nhiều người, nhất là những con người đủ thời gian sống mà nếm trải. Và nó dường như là một tín hiệu thẩm mỹ sẽ hóa thân trong phần lớn các bài trong tập.

Đối tượng, đề tài miêu tả, khái quát của tập thơ khá phong phú. Đó là quê hương, là mẹ, là em, là những địa chỉ văn hóa, thắng cảnh, danh lam, anh hùng, nghệ sĩ, và kể cả một phận người bé nhỏ, một kiếp sống khốn khó, tình yêu, tình bạn, có cả cái nghiêm túc và cái trào lộng… Tất cả đều nhận được từ chủ thể trữ tình những ánh nhìn thiện cảm, bao dung và điều quan trọng là, bằng sự chân thành, nhân hậu sẵn có, với mỗi đối tượng, Cao Xuân Thưởng đều có cách tiếp cận ít nhiều có bản sắc, và đặc biệt là luôn trong tâm thế sẻ chia, hay phát hiện một điều gì thuộc về thiện, mỹ mà đối tượng mang lại cho đời sống, cho con người. Chẳng hạn, viết về mẹ, dù là người mẹ tảo tần của chính mình, hay người mẹ gặp tình cờ ở lưng chừng một hành trình, người viết đều đặt họ trong một mối quan hệ nào đó khác, trong không chỉ là cảm thức đời sống với cái đói, cái nghèo, cái tần tảo hy sinh, mà là trong cảm thức lịch sử, trong sinh quyển văn hóa. Và ở góc độ này, mẹ đương nhiên đã trở thành một đại diện hay biểu tượng văn hóa, một nơi ký thác của văn hóa: người mẹ với điệu nhuôn, lăm, trong hoài nhớ về một thời thiếu nữ tưng bừng lễ hội; người mẹ với miếng trầu bề ngoài bé mọn nhưng hàm chứa cả ký ức nghìn năm của cả một dân tộc…
Về các anh hùng, nghệ sĩ, một mặt Cao Xuân Thưởng vẫn viết bằng cảm hứng ngợi ca, nhưng mặt khác, và điều này quan trọng hơn, tiếp cận họ ở góc độ con người đúng nghĩa. Vậy nên cái đời thường nổi lên như một thứ mỹ học đặc biệt về cái cao cả: Nguyễn Đăng Chế, Sơn Tùng, Đặng Văn Việt, Nguyễn Du, lãnh tụ Hồ Chí Minh,… Người viết nhìn thấy cội nguồn của những phẩm chất ấy, từ lam lũ đời thường. Đây là một nét chân dung nhà văn Anh hùng – Lao động Bùi Sơn Tùng:
“Ông đã là một con người đúng nghĩa
Được sinh ra từ làng
Một ngôi làng bên bờ đại dương
Lọt lòng đã nghe tiếng mẹ ru buồn”.
(Một con người)
Và đôi khi, lấy người anh hùng làm trung tâm soi chiếu, chủ thể trữ tình không giấu nổi chút ngậm ngùi chua xót cho người được kể, hoặc cho lẽ đời. Đấy là sự chua xót của người thơ, không phải của đối tượng. Tôi có quen biết khá sâu với nhà thơ – Anh hùng Nguyễn Đăng Chế, và tôi tin rằng, chân dung ông đã được Cao Xuân Thưởng khắc họa một cách khá sinh động và chuẩn xác, nhất là ở thái độ sống bình thản trước mọi ứng xử hướng về phía mình, với cảnh giới cao nhất biểu tỏ ở những cái cười:
“Đã năm mươi năm
Nhà nước sực nhớ ra
Và phong tặng ông danh hiệu Anh hùng
Khi tuổi đời đã cận kề tám chục
Ông lại rót chén rượu và cười
Cảm ơn người chúc
Bình thường như mỗi sáng mai tập thể dục
Tưới cho những khóm hoa tươi”.
(Chuyện về một người anh hùng)
Cao Xuân Thưởng viết về những thân phận bé mọn với tình thương, nhưng không là thứ tình thương ban phát, mà bằng sự lắng nghe từ sâu bên trong, để cùng chia với họ nỗi ngậm ngùi số phận:
“Ga hành khách cuối cùng con tàu đến
Họ quay lại trên con đường xa thẳm
Chồng ôm đàn vợ hát chuyến tàu quen”.
(Chuyến tàu quen)
Một khúc ca buồn, một con tàu buồn và ít nhất có một người buồn, ngoài hai vợ chồng người hát rong. Ai đã từng một lần nghe bài hát “Xin làm người hát rong” của Trần Long Ẩn, ít nhất sẽ một lần cảm nhận được nỗi đau của thân phận tha hương, lưu đày. Cao Xuân Thưởng đẩy nỗi đau đó thêm một bậc: người hát rong với kiếp tha hương lưu đày trong cõi nhân sinh chật chội và luôn giới hạn của một con tàu – sự quẩn quanh, chật chội không lối thoát.

Nhưng có lẽ, điều khiến tôi tâm đắc nhất ở tập thơ này, là tôi nhìn thấy ở đó một cái tôi trữ tình luôn luôn hướng đến thế giới của cái đẹp. Rất nhiều bài trong tập thơ dường như cố ý dẫn dắt người đọc theo một lối riêng, để họ chạm vào những giá trị thẩm mỹ (điều này thật quý giá biết bao, khi thơ Việt Nam đôi khi phải mang vác quá nhiều chức năng và cái đẹp có thể vì thế mà bị lãng quên dù bằng một cách rất vô tình).
Hướng tới cái đẹp tức là hướng tới các giá trị. Dấu lặng dành dung lượng khá lớn cho việc miêu tả, khái quát về mẹ, về lãnh tụ, về các anh hùng, nghệ sĩ và những gì mang trên mình những tín hiệu thẩm mỹ. Nhà thơ viết về Nguyễn Du, Sơn Tùng, Nguyễn Trọng Tạo…, bên cạnh tấm lòng ngưỡng mộ hay yêu quý, là khát vọng được sẻ chia, được kiếm tìm mình trong đó. Bài thơ “Dấu lặng” là bài mà ở đó, qua mối quan hệ với Nguyễn Trọng Tạo, qua các mối quan hệ của người khác với Nguyễn Trọng Tạo, chủ thể trữ tình nhận ra mình bởi chính những ứng xử chừng mực, không ồn ào, không phô trương (Tôi thấy, ngoài đôi ba cuộc bù khú cách nay mấy chục năm mà tôi có chứng kiến, hình như càng ngày Cao Xuân Thưởng càng nhẫn nại trên hành trình lặng hóa chính mình). Ở trên tôi có nói, người mẹ của Cao Xuân Thưởng thường xuất hiện trong một sinh quyển văn hóa nào đó. Đó là cái đẹp. Tôi không nghĩ miếng trầu Cao Xuân Thưởng nhắc đến trong bài “Dâng trầu ngày giỗ mẹ” là miếng trầu bình thường, bỏ vào miệng, nhai để thưởng thức vị nồng mặn, như một thói quen truyền đời của người Việt. Tôi nhìn thấy trong sự xuất hiện của miếng trầu là những gửi gắm, suy tư về cái đẹp. Sáu tuổi, tôi bắt đầu têm trầu cho mẹ mang đi trường, và từ đó, công việc têm trầu đã trở thành công việc thường nhật, chuẩn bị cho mẹ mỗi lúc rời nhà, chuẩn bị cho mẹ tiếp khách, têm trầu khi lễ tết,… Biết têm cả trầu cánh phượng, tôi hiểu sự phức tạp của việc têm được miếng trầu như ý. Cao Xuân Thưởng là người hay ngoái nhìn truyền thống bằng cái nhìn đầy suy tư, hẳn không vụng về đến mức “không sao bổ được quả cau cho đều”. Triết học hiện tượng học lấy con người làm trung tâm của sự nhận thức, theo đó, ý nghĩa hình hài của mọi sự vật đều bị quy định bởi sự tri giác của con người, với tư cách chủ thể đời sống, về nó. Tôi đồ rằng việc chủ thể trữ tình chưa bao giờ thấy mình bổ được quả cau cho đều là hệ quả của nỗi kính nhớ mẹ với tư cách tượng đài. Và có thể những miếng cau ấy được nhìn qua lăng kính đầy nước mắt. Thì đây:
“Miếng trầu thức với năm canh
Têm trầu têm cả tuổi xanh vào trầu”.
(Dâng trầu ngày giỗ mẹ)
Phẩm chất thẩm mỹ của câu thơ được làm nên căn bản bởi nghệ thuật tu từ chuyển đổi cảm giác. Ở đó cái vô hình tồn tại trong dạng thức hữu hình, và nó gửi đi những thông điệp rất đắt về mẹ, về miếng trầu. Vẻ đẹp của miếng trầu được làm nên bởi tinh chất tuổi xanh của mẹ. Và dù hơi khập khiễng, tôi vẫn muốn so sánh nó với vẻ đẹp của hạt ngọc được làm nên từ nỗi đau quặn xé lòng trai.
“Nước mắt Chiềng Ngam” ăm ắp tâm sự tiếc nuối những giá trị văn hóa truyền thống của một vùng đất cổ xưa, nơi gắn với biết bao huyền thoại, với những phong tục, tập quán đẹp đẽ với những nghệ sĩ, nghệ nhân của mường bản, suối nương. Ở đó, những gì được nhắc đến đều gợi những vẻ đẹp mang đặc trưng văn hóa vùng miền. Cao Xuân Thưởng viết về một người mẹ, nhưng người mẹ ấy không chỉ đại diện cho một vùng văn hóa, mà mẹ hiện lên với tư cách là cái đẹp, hiện thân của giá trị thẩm mỹ hiếm hoi còn sót lại, khắc khoải và u buồn. Người mẹ ấy đẹp không chỉ ở nhan sắc. Ở đây, vẻ đẹp của văn hóa truyền thống, của điệu nhuôn, lăm và đặc biệt tiếng hát của người mẹ, hiện lên như một thứ “kinh đô thẩm mỹ” ở hồi suy tàn:
“Tôi nhìn vào đôi mắt buồn
Xin mế hát một khúc nhuôn… một thời
Như từ trong cõi xa xôi
Mế bừng ánh mắt cất lời xốn xang
Tôi đá núi, tôi mây ngàn
Tôi sông, tôi suối, tôi chan chứa… người
Câu ca bỗng tắt nửa vời”.
Cái đẹp của Cao Xuân Thưởng trong tập thơ này không hiện lên như một thứ đã hoàn thành, để người ta chiêm ngắm, kiểu một bức tranh trên tường, một tấm ảnh góc bàn. Cái đẹp của Cao Xuân Thưởng là cái đẹp luôn vận động, sinh sôi, năng sản và thường xuất hiện với vai trò đánh thức, thức tỉnh, hoặc là cái đẹp được đánh thức, được thức tỉnh. Ngoài miếng trầu, điệu nhuôn, lăm và những người mẹ, còn là tiếng hát của những nghệ sĩ già trong một đào nguyên tưởng tượng; là những búp chè thơm ngát đánh thức tình người… Ngay cả giọt mưa, một hình ảnh đã xuất hiện rất nhiều trong văn học, kể cả văn học dân gian và văn học viết, vào thơ Cao Xuân Thưởng dường như cũng dừng lại lâu hơn để các nhân vật trữ tình thưởng thức như một cái đẹp, song hành với vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi.
Ở nhiều bài thơ, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết được nhắc đến trước hết đều mang giá trị biểu tượng nào đó, nhưng ở chỗ sâu thẳm nhất, nó vẫn là đại diện cho cái đẹp: một cánh thơm hoa gạo; một mái tóc buồn thiếu nữ; một chiếc guồng nhẫn nại quay suốt nghìn năm, một con sóng bừng lên khoảnh khắc… Bài “Bến tiên” là nỗi nhớ thương, nỗi tiếc nuối, chìm về xa xăm trong ký ức của tộc người và một âu lo bừng lên đâu đó. Cọn nước như là chứng nhân lịch sử, văn hóa… Hình ảnh cọn nước thẫn thờ quay, vừa mô tả được cái chậm rãi một mình của cọn nước vừa tả được tâm trạng; “Cây gạo đầu làng” đã vượt qua tính biểu tượng để trở nên cụ thể, sinh động mà trinh nguyên bởi nó là “một cây gạo trẻ hoa vừa đơm bông” – một cái đẹp tinh khôi, nguyên vẹn; một tiếng gọi mơ hồ thiếu nữ đánh thức mùi hương của búp chè:
“Một thoáng heo may
Nồng nàn sương khói
Một lời em gọi
Búp chè lên hương”.
Ở đây có cả cái đẹp đánh thức và cái đẹp được đánh thức.
Tinh thần hướng đến cái đẹp, nhất là những giá trị truyền thống có thể nói là khá nhất quán trong Dấu lặng. Nhưng bên cạnh những vần thơ trữ tình đầy suy tư ấy, người ta cũng thấy một Cao Xuân Thưởng khá trẻ trung với tình yêu và dí dỏm ở nhiều đề tài. Điều đó là cho vẻ đẹp, phẩm chất của tập thơ thêm phong phú, và cái tôi trữ tình cũng trở nên đa nghĩa, đa diện.
Điềm tĩnh nhưng không thiếu cái nồng nàn, bởi Cao Xuân Thưởng thường sống và suy tư sâu với đối tượng. Các ý tưởng của ông thường được biểu đạt bằng hình thức miêu tả hay tự sự, với giọng thủ thỉ, tâm tình, nhưng cũng giàu sức gợi; nhất là có cấu tứ chặt, thể hiện khả năng quán xuyến và triển khai tình điệu. Có những câu thơ có thể khiến người đọc nhớ mãi với nhãn hiệu của riêng ông, nhất là những câu bỏ lửng, câu vắt dòng độc đáo, câu sử dụng nghệ thuật tu từ chuyển đổi cảm giác, câu lục bát bậc thang,… Tôi còn nhớ, chừng trên dưới ba mươi năm trước, tôi đọc được trong tập Bạn cùng thời của ông những câu kiểu thế này:
“Cho anh xin một chén, em
Lạc rang đã hết còn nem, ừ thì.
Trong một bài thơ được mở đầu bằng hai câu:
Thật may trong quán còn đèn
Trong chai còn rượu, còn em bán hàng
Và cũng được kết thúc bằng hai câu ấy”.
Những câu ấy, tôi đọc một lần và nhớ mãi. Tập Dấu lặng cũng không thiếu những câu gây ấn tượng mạnh như thế:
“Chồng ôm đàn, vợ hát chuyến tàu quen
Khách thức ngủ chập chờn đêm vàng vọt
“Thành phố nào nhớ không em, ngày chủ nhật””
…
“Chồng ôm đàn vợ hát chuyến tàu quen
“Thành phố nào nhớ chăng em”
(Chuyến tàu quen)
Mế tôi nhớ bạn, nhớ mường
Quỳ Châu một sáng thu vương tôi… và
(Nước mắt Chiềng Ngam)
Sân chùa chợt bóng kiêu sa,
Mắt như sao với làn da… ối giời”.
(Đi chùa)
Tôi không nhớ (đúng hơn là không biết) đây là tập thơ thứ mấy của Cao Xuân Thưởng. Nhưng tôi biết rằng, mặc dầu có những nỗ lực làm mới mình rất thành công, một cách bền bỉ; mặc dầu có vài thể nghiệm có thể chưa thực sự đến độ như chính ông có thể kỳ vọng, song, phong cách của ông về cơ bản vẫn nhất quán, ổn định. Đó là một Cao Xuân Thưởng thâm trầm, điềm tĩnh, hiền hòa, đôn hậu mà vẫn da diết, nồng nàn. Giữa lúc thơ phú ồn ào này, có một phong cách để người ta nhận ra ngay khi đọc, điều ấy đáng quý biết bao!
Lê Thanh Nga















