“Dần sáng” là khoảnh khắc không bùng lên rực rỡ, chói gắt, mà thấm vào mắt người bằng những chuyển động rất nhỏ với tiếng gió đổi chiều, hơi sương rút bớt, mùa quả chín, tiếng suối reo… và một nỗi nghĩ ngợi vừa kịp gọi tên. Tập thơ “Dần sáng” của Nguyễn Thị Kim Nhung chọn chính khoảnh khắc tờ mờ ấy làm điểm tựa để nhìn đời sống từ phía bền bỉ, lặng lẽ và sâu lắng. Ở đây, ánh sáng không chỉ là hiện tượng của ngày mới, mà còn là một trạng thái tinh thần, đi qua những thiếu thốn, lao động, ký ức quê nhà, để chậm rãi tìm thấy phẩm giá, vẻ đẹp, nỗi buồn… của đời sống. Và cũng từ “ban mai rạn bóng cơ hồ” (Dần sáng) ấy, một giọng thơ trẻ hiện lên với sự tiết chế, chắc tay, không ồn ào tuyên ngôn, nhưng có khả năng làm vang lên âm thanh của ngôn từ bằng những câu chữ tinh tế.
Tập thơ “Dần sáng” như một bản đồ địa hình tinh thần
Nguyễn Thị Kim Nhung sinh năm 1990, quê ở huyện Cẩm Khê (cũ), tỉnh Phú Thọ, tốt nghiệp Khoa Viết văn – Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2014. Hiện nay Kim Nhung công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tác phẩm thơ chính đã xuất bản gồm có: “Thức cùng tưởng tượng” (2019); “Từ phía sương buông” (Trường ca, 2021) và “Dần sáng” (2025). Kim Nhung đã được trao tặng các giải thưởng văn học như: Giải Nhì Cuộc thi Thơ Sinh viên năm 2013 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức; giải Tư Cuộc thi Thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2015 – 2016; giải Ba Cuộc thi Thơ Báo Văn nghệ 2020 – 2021 và gần đây nhất là giải Tác giả Trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2025 cho tập thơ “Dần sáng”.

Miền quê hương trung du Phú Thọ đi vào tập thơ “Dần sáng” như một lẽ tự nhiên, tạo thành một không gian đặc thù, không chỉ như một đặc trưng thi pháp thơ của tác giả, mà còn cho thấy một dạng bản đồ văn chương từ góc nhìn của lý thuyết địa văn học (Literary geography). Địa văn học là một nhánh nghiên cứu xem không gian và địa điểm như làng, đồi, thị trấn, biên giới, con đường, căn nhà… không chỉ là phông cảnh cho nhân vật, mà còn là nhân tố cấu tạo nên ý nghĩa, định hình cảm xúc, ký ức, bản sắc… trong tác phẩm. Với hướng nhìn ấy, thơ của Kim Nhung có thể được đọc như một dạng văn bản bản đồ, nhưng không phải bản đồ địa lý theo nghĩa đo đạc, mà là bản đồ của cư trú, của đường đi, của các vùng cảm xúc. Khi áp vào thơ, điều này giúp chúng ta nhìn miền quê trung du trong thơ của Kim Nhung không chỉ là địa hình, là quê hương, mà còn là một không gian xã hội trong đó con người đã sống, đã trải nghiệm, đã lao động, đã được ký ức đóng dấu và đi theo suốt cuộc đời.
Miền quê trung du trong tập thơ “Dần sáng” như một địa hình tinh thần, mỏi mệt, lưng chừng, đứt quãng. Ở đây, trung du không còn là danh từ địa lý trung tính. Nó biến thành làng đồi, thành nỗi đau đáu khó mà chạm tới nhau, thành nỗi niềm đi xa vắng.
“núi đồi kề nhau vẫn lẻ
đỉnh cao nào có thể chạm nhau
mây trắng phơi một nỗi”
(làng đồi)
Câu thơ là một thao tác rất lạ, tinh tế khi để “núi đồi kề nhau” mà “vẫn lẻ”. Trên bản đồ địa lý, “kề nhau” nghĩa là gần; nhưng trên bản đồ cảm xúc, “kề nhau” chưa đủ để “chạm nhau”. Thế nên địa hình trở thành ẩn dụ cho mối quan hệ, có những con người sống gần, muốn đến với nhau, mà vẫn không vượt qua được cái lẻ của số phận. Có thể xem “làng đồi” là một địa điểm được nhận thức từ nhiều lớp: lớp thiên nhiên (đồi, mây, nắng, cây…), lớp con người cư trú (em gái hái rau, bầy trẻ…) và lớp cảm xúc (mơ, một nỗi, tức ngực…). Địa văn học thường nhấn mạnh vào việc nơi chốn là trung tâm tác phẩm, coi đó như một trường lực để văn bản tổ chức câu chữ. Trong “làng đồi”, trường lực ấy tạo ra một cảm giác đặc trưng, cô đơn nhưng không kịch tính, mà âm ỉ, bền bỉ, dịu dàng theo một kiểu… rất trung du.
“trung du khảm khắc nét đồi
ước vượt lên nên ta đi mãi
sông trốn tuổi đôi bờ xanh nhẫn nại
đợi hội làng dâng nước gội xuân”
(dòng xuân)
Nếu xem thơ như một bản đồ cảm xúc, thì trung du trong thơ của Kim Nhung là vùng đất có địa mạo đặc thù, không cực đoan, không ranh giới, nhưng đầy những độ dốc nhỏ làm con người mỏi mệt, làm tình yêu dừng lại ở giữa đường. Chính ở chỗ này, luận điểm của nhà phê bình Henri Lefebvre trở nên hữu ích khi ông cho rằng không gian không có sẵn như một cái nền trống trải mà nó được tạo ra bởi đời sống và quan hệ giữa con người với nhau. Thơ Kim Nhung cho thấy trung du là không gian đã bị đời sống bào mòn bằng những thiếu thốn, bằng vất vả lao động, bằng kỷ luật gia đình và cả bằng những cuộc chia xa không gọi được thành lời. Kim Nhung không tả cảnh trung du. Tác giả vẽ bản đồ một đời sống trung du, nơi có “tiếng gọi loang đồng ruộng” (dần sáng), “xa lâu ngày lòng như suối cạn” (suối nhỏ), “đỉnh núi vắng chân người qua” (những người đi đốn củi), “hoa vẫn đỏ nhưng không thể thắp” (người lạ)… nơi ấy nhà có thể nghiêng, người có thể lẻ, tình yêu có thể lưng chừng, tan vỡ, nhưng con người vẫn phải học cách sống, học cách đứng vững và học cách đi tiếp.
Và rồi không gian trong thơ Kim Nhung từ trung du chuyển ra phố thị, như người con rời bỏ quê hương để đến với chốn thị thành. Cảm giác cư trú trong thơ Kim Nhung không phải bình yên trọn vẹn, mà là một kiểu không ổn định và chênh chao.
“căn phòng đêm nay rất trắng
bóng dùng dằng rồi cũng bỏ đi
giấc mơ là cây cầu gỗ mục
chạm vào rồi làm sao bước qua”
(đêm)
“Trong căn phòng hai chục mét vuông
ta bắt đầu làm mẹ
thu vén nào cũng chật giấc mơ”
(làm mẹ)
Không gian sống ở đây là được trao cho ý nghĩa bằng cả trải nghiệm thân thể và tâm lý, bằng bản năng người mẹ thu vén, bằng cả sự quen thuộc đến mức đau đớn với những ngõ, những người. Đây là cách thơ vẽ bản đồ không bằng tọa độ địa lý, mà bằng mối quan hệ giữa người và nơi chốn. Nơi chốn hiện lên như một cấu trúc vừa vật chất (hai chục mét vuông) vừa tinh thần (giấc mơ). Và chính sự đan cài này tạo ra chất chững chạc mà day dứt, tự vấn mà buồn lặng trong giọng thơ Kim Nhung. Những câu thơ không mơ mộng thoát ly khỏi nơi chốn mà đặt ra câu hỏi sống như thế nào, sống ra sao trong nơi chốn ấy để vẫn có thể khóc, có thể mơ, có thể khao khát…
Ký ức không trôi đi mà neo bám vào không gian và vào chính mình
Tập thơ “Dần sáng” dày đặc các ký ức. Lý thuyết ký ức (Memory studies) nghiên cứu cách quá khứ được ghi nhớ, truyền lại và được làm sống lại trong hiện tại thông qua cá nhân, gia đình, cộng đồng và văn hóa như nghi lễ, vật dụng, câu chuyện, hình ảnh, văn bản tác phẩm… Điểm quan trọng của lý thuyết ký ức là ký ức luôn cần một khung để neo giữ. Đặt vào thơ Kim Nhung, điều này giải thích vì sao “khu vườn ký ức” (tên một bài thơ trong tập thơ “Dần sáng”) không xuất hiện như những hồi tưởng trừu tượng, mà luôn đi kèm với con người cụ thể như người cha “số phận thử cha bằng nước sôi lửa bỏng” (bóng cha), “một đứa trẻ từ nhiều năm trước/ vụng về tạm biệt khu vườn” (khu vườn ký ức); với những nỗi niềm, “kỷ niệm như trái chín cây/cho người mai sau biết ngọt” (chiều thổ lộ), “phố đã từng yên lặng/ cho chúng mình râm ran” (viết trong bệnh viện); với những vật chất cụ thể như “phố gốm”, “con thuyền”, “cánh buồm”, “lưỡi cuốc”…
Trong bài thơ “chớp mắt chiều”, ký ức về người bà không chỉ là để nhớ lại điều đã sống, đã trải qua, mà còn là sự lưu giữ qua dấu vết, hành vi, địa điểm. Những hình ảnh “gò Trám”, “lưỡi cuốc”, “tra hạt”, “đàn bò”… là những hình ảnh ký ức và cũng là phương tiện trao truyền ký ức:
“bà trở về gò Trám
…
người xới đất gọi tôi về tra hạt
lưỡi cuốc nảy lên bí mật gò đồi
tôi dại dột tra vào trống vắng
để cuối đời bà thu hái hư vô”
(chớp mắt chiều)
Cú “nảy lên” của lưỡi cuốc làm bật một điều khó gọi tên như “bí mật gò đồi”. Ở đây, ký ức không còn là câu chuyện gia đình đơn tuyến, mà thành một địa tầng cảm giác qua nhiều cung bậc, đất giữ bí mật, cuốc bật bí mật, người chạm vào bí mật, rồi kết lại bằng một triết luận lạnh mà đau “thu hái hư vô”. Đó là thứ ký ức đã đi qua đời sống, đi qua ám ảnh, đi qua mất mát, rồi mới trở thành nhận thức.
“thời gian như gương soi
thấy tất cả nhưng không lưu bóng
ta rời đi mang theo chính mình”
(tháng tư trở lại)

Khép lại tập thơ “Dần sáng”, điều ở lại với độc giả không hẳn là những câu thơ đinh để trích dẫn, mà còn là một trạng thái. Đó là trạng thái tờ mờ khi thế giới còn chưa kịp rõ ràng, nhưng con người đã kịp lắng nghe và kịp giữ lại lòng mình, tình mình. Nguyễn Thị Kim Nhung không đi tìm ánh sáng thơ bằng những ngôn từ rực rỡ, mà đi tìm ánh sáng bằng độ nhạy của sự chiêm nghiệm, ngắm nhìn, bằng ký ức quê nhà như một thước đo tình cảm, bằng cả lao động và nề nếp đời thường như một cách không xa lìa những điều đã nuôi lớn mình. Ở đó, im lặng kiệm lời không phải là thiếu lời, mà là để lời trở nên đáng tin; chi tiết, hình ảnh thơ không phải để trang trí, mà để nâng ý nghĩa lên bằng độ thật lòng của cảm xúc.
Trong bản đồ thơ trẻ vốn nhiều đường bay gấp gáp, “Dần sáng” chọn một đường bay khác, bay thấp, sát mặt đất, nơi tiếng bếp, hơi sương, con dốc làng đồi, những ngày trái mùa, những đêm phố vắng… trở thành vật liệu để thơ làm nên một không gian dần sáng. Tập thơ kiên nhẫn gieo vào người đọc một cảm giác bền bỉ lặng thầm, chắt lọc, nâng niu từng chút một và ánh sáng dần rạng lên như một điều có thể được làm ra từ chính sự chắt lọc, nâng niu ấy.
Có lẽ vì thế, nhan đề “Dần sáng” của tập thơ không chỉ là tên của một thời khắc, mà còn là tên của một cách sống, đi chậm rãi mà không chùn bước, nói khẽ khàng mà không yếu đuối, viết lặng lẽ nhưng không mờ nhạt. Và khi trang thơ cuối khép lại, chúng ta nhận ra rằng đôi khi văn chương không cần thắp lên một mặt trời rực rỡ. Chỉ cần đặt đúng một ngọn đèn nhỏ vào vùng tờ mờ của đời sống, để người đọc tự nhìn thấy con đường mình phải đi và đủ bình tĩnh, tinh tế để “dần sáng” cùng với nó.
Hà Thanh Vân














