PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lân, con gái cố Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh – Nguyễn Xuân Linh (1909 – 1988), rưng rức xúc động nâng niu trên tay những kỷ vật về bố mình – một lão thành cách mạng, người lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám 1945 ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
Cụ Linh vốn sinh ra ở xã Nam Quang, huyện Nam Đàn (cũ), nay là xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình Nho học. Cụ tham gia cách mạng từ những năm 1930, thuộc thế hệ cán bộ tiền khởi nghĩa. Tháng 10/1930, cụ bị bắt trong khi đang hoạt động cách mạng, bị kết án 3 năm tù giam và 1 năm quản chế, nhưng đến năm 1931 thì được thả. Sau khi ra tù, cụ tiếp tục hoạt động, đến tháng 12/1931, Khu ủy lâm thời Vinh được khôi phục, Nguyễn Xuân Linh là một trong ba ủy viên. Nguyễn Xuân Linh vào Đảng tháng 4/1930, được giao phụ trách huyện Hương Khê (cũ) của tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp đó là những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi của cụ, nhất là trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Đến giữa tháng 3/1932, Nguyễn Xuân Linh triệu tập hội nghị cán bộ để khôi phục Khu ủy và được bầu làm Bí thư Khu ủy. Đến tháng 9/1932, ông lại bị bắt giam ở Vinh, bị kết án 13 năm khổ sai và 6 năm rưỡi quản chế, bị đày đi Lao Bảo, Buôn Mê Thuật. Đây là giai đoạn cách mạng gặp khó khăn, Khu ủy Vinh chỉ hoạt động được 5 tháng thì giặc Pháp đàn áp, phá vỡ.
Tháng 9/1943, Nguyễn Xuân Linh được ra tù, nhưng bị giải về Vinh quản chế. Tại đây, cụ tiếp tục hoạt động, tham gia thành lập Xứ ủy Trung Kỳ. Đến tháng 4/1944, cụ lại bị bắt ở Diễn Châu, Nghệ An bị giam ở Vinh cho đến tháng 3/1945, bị tuyên án chung thân, nhưng cụ vượt ngục thành công.
Nguyễn Xuân Linh đã cùng các đồng chí khác tiếp tục ngay vào hoạt động, thành lập Ban Vận động Việt Minh hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào. Ngày 19/5/1945, Ban Vận động Mặt trận Việt Minh liên tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh được thành lập tại thành phố Vinh, Nguyễn Xuân Linh được cử làm Trưởng ban.

Tháng 3/1945, Nguyễn Xuân Linh với cương vị là Phó Bí thư Xứ ủy được Xứ ủy giao nhiệm vụ làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, nhưng về chính quyền là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa liên tỉnh Nghệ – Tĩnh. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, Nguyễn Xuân Linh đã có những đóng góp quan trọng vào Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Nghệ An và Hà Tĩnh.
Trong hồi ức về người đồng chí của mình, ông Võ Thúc Đồng (1914 – 2007), nguyên Bí thư Liên Khu ủy IV, Ủy viên Trung ương khóa V, VI, trong bài Tưởng nhớ anh Nguyễn Xuân Linh đã viết: “Lúc bấy giờ ở Nghệ An có nhiều lực lượng tham gia cách mạng, nhiều chính trị phạm từ những nhà tù khác nhau, không thể một lúc thống nhất. Trong tình hình khó khăn và cấp bách đó, anh cùng một số đồng chí đã đưa ra quyết định sáng suốt là chưa vội thành lập Đảng bộ mà phải nhanh chóng tập hợp lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Anh được nhất trí bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh của hai tỉnh để chỉ đạo chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền”. Còn PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Lân xúc động kể: “Cha tôi lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở quê nhà. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám thì cha đã phải chịu tù suốt đời, vì thực dân Pháp đã tuyên ông mức án chung thân”.
Khởi nghĩa thành công, chính quyền cách mạng chính thức được thành lập. Trong Cách mạng tháng 8/1945, Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh của cả nước giành chính quyền sớm nhất toàn quốc, đến ngày 21/8/1945, toàn bộ chính quyền đã về tay nhân dân. Sau đó là những ngày Nguyễn Xuân Linh lãnh đạo chính quyền thực hiện lời kêu gọi ngày 6/2/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tiêu thổ kháng chiến”.
Tính ra, trong cuộc đời theo Đảng của mình, Nguyễn Xuân Linh làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An ba thời kỳ: Năm 1945 thời kỳ lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở Nghệ An và Hà Tĩnh, thời kỳ 1945 – 1946 và thời kỳ 1956 – 1957 khi được Trung ương cử về chỉ đạo sửa sai cải cách ruộng đất.
Với Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Linh làm Bí thư Tỉnh ủy hai thời kỳ 1951 – 1954 và 1959 – 1971. Đó là những thời kỳ Nguyễn Xuân Linh trực tiếp lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần vào thắng lợi của quân và dân Hà Tĩnh cũng như cả nước.
Thời kỳ 1951 – 1954, dưới sự lãnh đạo của Bí thư Nguyễn Xuân Linh, Ủy ban Kháng chiến từ tỉnh đến huyện thị được củng cố, thực hiện các nhiệm vụ chính trị của tỉnh Hà Tĩnh. Đặc biệt xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện kịp thời, liên tục thông suốt an toàn cho các mặt trận Bình – Trị – Thiên, Liên khu 5, mặt trận phía Tây (Lào), góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Về giai đoạn sau, PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Lân nhớ lại: “Năm 1955, khi tôi khoảng 4 tuổi, mẹ và hai chị em tôi chuyển ra Hà Nội để sống cùng cha. Lúc đó ông là Tổng Giám đốc Tổng công ty Lâm thổ sản. Nhưng chỉ được một năm cha tôi lại được Trung ương cử về kiểm tra công tác sửa sai sau cải cách ruộng đất ở Nghệ An, sau đó Trung ương chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Vì vậy năm 1959, cả nhà tôi lại chuyển về sinh sống ở Hà Tĩnh”. Đây là thời kỳ Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên CNXH, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống Mỹ – Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhà, theo Nghị quyết 14 của Trung ương.
Tháng 9/1960, Đại hội lần thứ III của Đảng thành công, đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là xây dựng XHCN và đấu tranh thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Bí thư Nguyễn Xuân Linh, quân và dân Hà Tĩnh vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.
PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Lân nhớ lại: Khi chiến tranh ngày càng khốc liệt hơn, đặc biệt sau sự kiện bi thương, ngày 19/8/1968 bom Mỹ ném trúng lán học của Trường cấp III Lý Tự Trọng, nơi tôi đang học làm 16 bạn thiệt mạng, các chú trong Tỉnh ủy bàn với cha tôi: “Anh nên đưa chị và hai cháu ra Hà Nội cho an toàn hơn”. Nghe vậy cha tôi đã trả lời: “Nhân dân Hà Tĩnh không sợ bom rơi đạn nổ thì vợ con tôi cũng không sợ, không đi đâu hết”.
Hà Tĩnh là nơi “túi bom, chảo lửa”, Nguyễn Xuân Linh đã lăn lộn và được sống trong tình yêu thương, bọc đùm của nhân dân Hà Tĩnh. “Những năm tháng sống cùng gia đình và học tập ở Hà Tĩnh để lại trong lòng chúng tôi những tình cảm sâu đậm không bao giờ phai mờ”, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lân xúc động.
Đầu năm 1972, khi đế quốc Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, Nguyễn Xuân Linh được Trung ương điều ra làm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thư ký Ủy ban (tương đương Tổng Thư ký Quốc hội). Cụ là đại biểu Quốc hội khóa III và IV.

Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Nguyễn Xuân Linh đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương, cao nhất là Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh… Cụ mất tháng 3/1988, được an táng tại Nghĩa trang Mai dịch (Hà Nội). Hà Nội và Nghệ An đã đặt tên đường Nguyễn Xuân Linh.
Sinh thời, Nguyễn Xuân Linh luôn sâu nặng nghĩa tình với cả Nghệ An và Hà Tĩnh. Những cán bộ cùng thời như ông Nguyễn Lự, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Tiến Chương, nguyên Chủ tịch, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Trần Quang Đạt, nguyên Chủ tịch tỉnh; Võ Thúc Đồng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy như Tô Vinh, Đặng Đình Tú… luôn gắn bó, chia sẻ vui buồn, dành cho Nguyễn Xuân Linh tình cảm trân trọng. Sau khi cụ mất, gia đình hai người con gái vẫn giữ mối quan hệ nghĩa tình với những người đồng chí của bố mình, dẫu khi đó họ cũng đã nghỉ hưu.
Trong nhiều di cảo gia đình còn lưu giữ, có nhiều thư trao đổi của cụ Nguyễn Tiến Chương lúc còn sống, tình cảm tri ân của lãnh đạo Hà Tĩnh trong việc hỗ trợ kinh phí để tôn tạo lại phần mộ của cụ ở Mai Dịch (năm 1999), sưu tầm, tuyển chọn và in tập Nguyễn Xuân Linh thơ và người. “Chú Nguyễn Tiến Chương dù đã 80 tuổi nhưng nhiều lần đạp xe từ Vinh vào thị xã Hà Tĩnh trình bày nguyện vọng của gia đình tôi về việc sửa mộ. Phải có một tình cảm cao cả giữa những người đồng chí mới vượt qua tuổi tác, khó khăn đẻ làm việc tâm linh vì bố tôi”. PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Lân chia sẻ.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, khi bị bắt bớ, tù đày ở các Nhà lao Vinh, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột… Nguyễn Xuân Linh đến với thơ, làm thơ về lý tưởng, về đồng chí, đồng đội. Cụ quan niệm và giải thích về việc làm thơ: “Phải có thơ nhanh mới kịp với các tình huống xảy ra. Làm thơ dễ nói với nhau hơn, nhẹ nhàng kịp thời mà sâu sắc, nhiều khi rất có tác dụng”. Thơ với những người cộng sản luôn là phương tiện ái quốc.
TS Đặng Duy Báu đánh giá: “Nguyễn Xuân Linh là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một người anh kính yêu, mẫu mực, một người đồng chí thủy chung”; “Anh luôn là tấm gương mẫn cán trong công việc, là trung tâm đoàn kết, là hình ảnh đẹp về người cán bộ cách mạng hết lòng với Đảng với dân”. Lúc viết “Lời giới thiệu” cho tập thơ xuất bản kỷ niệm 10 năm cụ Nguyễn Xuân Linh mất, TS Đặng Duy Báu đang là Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh.
Ngô Đức Hành















