Giát, Cầu Giát, phố Giát, địa danh có phần giản dị, mộc mạc này hẳn nhiều người từng nghe, từng biết. Bởi Cầu Giát nằm trên trục quốc lộ 1, dọc đường thiên lý Bắc – Nam, vốn từ xa xưa như là một độc đạo xuyên suốt chiều dài đất nước. Từ trung tâm Cầu Giát có tuyến đường xuống biển, lên rừng, lại có ga tàu hỏa (ga Cầu Giát), và từ ga Giát có nhánh đường sắt lên Phủ Quỳ, vùng đất dồi dào sản vật núi rừng để khai thác và phát triển miền Tây rộng lớn.
Cầu Giát được nhiều người biết còn bởi đây là thị trấn của Quỳnh Lưu – một huyện nổi tiếng toàn quốc về mô hình làm ăn lớn. Sau ngày đất nước thống nhất, Cầu Giát dập dìu các đoàn về Quỳnh Lưu tham quan học tập về “pháo đài cấp huyện”, nào phương thức quản lý mới, nào dời làng mở rộng đất sản xuất, đưa cơ giới vào đồng ruộng, nào đắp đập trữ nước, xây bệnh viện, xây trại thương binh…
Lại nói nằm ngay trục quốc lộ 1, Cầu Giát cách Vinh 59km về phía bắc, cách thành phố Thanh Hóa hơn 80km về phía nam. Từ trong lịch sử xa xưa, vùng Nam Thanh Bắc Nghệ này như là cửa ngõ đón những người lưu lạc kiếm sống từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trên đường xuôi nam. Và thế là một phần trong số đó đã tụ lại nơi rẻo đất giáp biển giáp rừng được coi là dễ làm ăn kiếm sống này, để rồi ngót cả thế kỷ trôi qua, giờ đây tiếng nói của người Cầu Giát vẫn mang âm sắc mấy tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Bám dọc hai mặt đường phố Giát là dân các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa… nhưng đông nhất có lẽ là người Nam Định. Người di cư mang theo vào vùng đất mới các nghề kiếm sống: làm kẹo, cắt tóc, sửa chữa xe đạp, đồng hồ, làm phở, làm đậu phụ, bán thuốc bắc… và từ những ngành nghề mà họ mang theo này đã phôi thai nên vẻ phố phường, hình thành một vùng văn hóa mới nơi mảnh đất này. “Phố thầu đâu” – cái tên gọi đầu tiên của phố Giát. Được gọi là “phố thầu đâu” chắc hẳn nơi đây hồi đó lắm cây thầu đâu – là loại cây mộc mạc mọc khắp mọi vùng mà ai ai cũng biết.
Trong ký ức tuổi thơ tôi, “phố thầu đâu” và tiếp theo là phố Giát là hai dãy nhà tranh liền kề nằm dọc hai bên quốc lộ 1, từ ngã tư bây giờ trở vào, với các biển quảng cáo màu sắc tươi sáng, kiểu chữ mềm mại, nào “phở Điền”, “phở Yên”, thuốc bắc “Chấn Hưng Long”, chụp ảnh “Rạng Đông”, “Đồng hồ Tịnh Ký”… Rồi quán cắt tóc, sửa chữa xe đạp, tiệm vàng bạc… mang đầy vẻ phố thị.
Hòa bình lập lại mới được mấy năm mà cuộc sống và xã hội đã tươi vui hồng hào sắc diện. Bài thơ Mừng Xuân 61 của nhà thơ Tố Hữu như một tiếng reo vui “…Xuân ơi xuân em mới tới dăm năm/ Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội…”. Những đồng lúa xanh mướt, những hàng phi lao mới trồng cao vừa vượt đầu người cũng mướt xanh. “…Đường nở ngực những hàng dương liễu nhỏ/ Đã lên xanh như tóc tuổi mười lăm…”. Đoạn đường quốc lộ 1 từ làng Bèo quê tôi vào phố Giát mới được tráng nhựa chạy giữa hai bờ phi lao lâu lâu có một chiếc ô tô chạy qua đẹp như huyền thoại luôn mời gọi bước chân lũ trẻ chúng tôi.
Gốc gác chúng tôi ở làng Cao Phương, Vụ Bản, Nam Định, chẳng biết các cụ chúng tôi lưu lạc vào làng Bèo Hậu từ đời nào. Bởi lớn lên tôi không biết mặt ông bà, và nghe bố tôi, các chú, bác tôi đều nói tiếng Nghệ. Tôi được sinh ra tại làng Bèo tre pheo tranh rạ nằm bên quốc lộ, vì thế mà phố Giát với chúng tôi lúc này là điều gì đó trong mơ ước tuổi đầu đời. Phố Giát có các bác họ của tôi, (cùng vào Nghệ nhưng nhánh ở làng Bèo, nhánh vào phố Giát). Phố Giát đông đúc, có chợ búa, có nhiều hàng quán, có phở, có bánh kẹo, có chụp hình, có “giếng nước máy” mát lành. Hai giếng nước lọc này, một ở đầu thị trấn (đối diện bưu điện Quỳnh Lưu bây giờ), một ở sau khu Ủy ban thị trấn hiện nay. Cả hai giếng được xây từ thời Pháp thuộc. Hai giếng nước này được xây bằng bê tông hình chữ nhật, chiều dài độ 80m, chiều rộng độ 40m. Phía trong được ngăn thành 4 ngăn. Ngăn ngoài cùng đón nước từ mương tiểu câu của nông giang vào lọc qua cát sỏi, và ngăn tiếp nước được lọc qua một lớp than củi. Ngăn trong cùng chứa thứ nước trong veo mát rượi. Thứ nước mà hễ có dịp vào Giát chúng tôi đều ùa vào uống lấy uống để. Bên ngoài giếng, phía trước có bắt vòi cho người lấy nước. Người ta xây chỗ sân giếng hai trụ bê tông hình lăng trụ vuông cạnh độ 1,5m và cao tầm 1,8m. Trụ bên phải có hàng chữ Pháp, bên trái chữ Việt đắp nổi bằng bê tông ghi năm khánh thành là năm 1938. Tiếc rằng cả hai giếng đó, nét văn minh có thể gọi là đầu tiên của phố Giát đã không còn. Nó chỉ còn đâu đó trong ký ức một thời của lớp người già, thế hệ đầu tiên lập nên phố Giát và một vài lứa thời hậu thế.
Cầu Giát với tôi, có nhiều điều hấp dẫn khác nữa, nhưng có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất là những phiên chợ. Chợ Giát 5 ngày một phiên vào những ngày 5 và 10. Ngày chợ phiên khách về đi kín đường, có khách từ Diễn Châu, Yên Thành, Nghi Lộc, Vinh… ra, có khách từ Thanh Hóa vào… Hàng hóa ê hề. Cá, mực, tôm, cua, ốc, sò tươi ngon từ lạch Quèn, lạch Thơi lên, lạch Cờn vào. Hàng lâm sản từ Phủ Quỳ, Phủ Bọn tràn xuống, nào mây song, củ nâu, mộc nhĩ, nấm hương, măng khô. Rồi thì nếp hoa vàng, nếp cú, gạo lốc mỡ… rồi ngô, lạc, dưa đỏ, dưa gang vùng bãi ngang lên, dứa, mít, khoai, sắn từ vùng Tam Lễ, Vĩnh Yên xuống… Rồi thì hàng sắt, hàng cày bừa, chài lưới, mây tre, hàng may mặc… Hàng bánh đúc, bánh cuốn thu hút các chị, các bà, hàng thịt chó tiết canh khề khà cánh đàn ông bên chai nút lá chuối. Chợ Giát ngày đó có vị trí ngay Trường Tiểu học Cầu Giát bây giờ. Bãi đất rộng phía dưới là khu chợ trâu bò, là nơi để “lão Khúng” dắt trâu xuống bán từ lúc trời chưa sáng trong truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Minh Châu, người Quỳnh Lưu.

Chợ Giát nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc, nhưng chợ Giát mấy phiên Tết lại càng hấp dẫn. Chợ Tết những phiên cuối năm là những phiên ngày 20, 25 và 30, đặc biệt phiên ngày 30 được gọi là phiên chợ cọ, chao ôi là vui. Chợ họp tràn cả ra mặt đường, người người chen vai thích cánh. Suốt dọc hai bên đường, suốt không gian chợ ồn ào tiếng nói cười, chào hỏi, tiếng kèn đất ọ ẹ, tiếng tò he, tiếng đập lung tung rộn rã. Lâu lâu lại có tiếng pháo đùng nổ khiến người ta giật mình kêu ré lên. Các quầy hàng đông nghịt người. Người già chen đến hàng câu đối, hàng tranh Tết. Hàng hoa giả, hàng tò he, hàng pháo tép… chen chúc trẻ con. Rồi hàng ăn uống, hàng quần áo Tết… Thịt quay, thịt nướng, giò, nem, mọc, rồi miến, rồi đậu… và trên trời dưới cá: cá thu, cá nục, cá ù, cá thửng, cá thèn… rồi tôm bạc, tôm đất, tôm hùm, ốc mỡ, ốc gào… Mấy bà mấy chị bán cá giọng biển chao chát má môi căng đỏ nói cười… Lũ chúng tôi len chân qua các dãy hàng, cây mía trên vai va hết người này người khác nên bị la oai oái…
Đang là thời kỳ xây dựng hợp tác xã làm ăn tập thể. Các xã vùng nông gọi là hợp tác xã nông nghiệp. Riêng Cầu Giát có hợp tác xã ngành nghề gồm các tổ cắt tóc, sửa xe, rèn, mộc… Thương nghiệp huyện có cửa hàng ăn uống, cửa hàng thực phẩm… Chung quanh chỗ ngã tư bây giờ có tổ cắt tóc, có khu vực Ủy ban huyện là vị trí Phòng Giáo dục bây giờ. Cầu Giát đã ra vẻ phố phường lắm. Lũ trẻ chúng tôi ngoài đi học, thời gian còn lại tranh thủ giúp bố mẹ như đi làm thủy lợi, đi nhặt phân… Mỗi lần đi nhặt phân trâu bò chúng tôi dậy thật sớm, vào tận lèn Đồng Bến (Quỳnh Giang), làng Thuận Nghĩa (Quỳnh Lâm)… nhặt đầy gánh rồi quay về, gánh ra tận giữa đồng đặt nghỉ mới quay lại xem phố, có tiền thì vào cửa hàng ăn bát chè sắn, uống cốc xiro, không thì chỉ nhìn, chịu thèm mà quay về. Bấy giờ đang là những ngày tươi vui phơi phới, Cầu Giát ngày một khởi sắc nhộn nhịp. Phố Giát bấy giờ có một bến thuyền, ấy là chỗ cái cầu trên đường quốc lộ, cũng được gọi là cầu Giát. Sông Thai chảy qua đây hồi đó còn rộng và sâu, là bến chật chội thuyền bè. Thuyền vùng dưới theo sông Thai ngược lên nhập hàng. Hàng nhập kho nông sản có lạc, ngô, thóc gạo. Hàng lên chợ có chum vại, nước mắm, cá khô… Phía bắc cầu là hệ thống kho, mấy dãy nhà tre mét được rào chắn kỹ bằng nứa. Khẩu hiệu chăng ngang trên cổng chào “Lạc là thép, lạc là gang, lạc sang nước bạn lạc mang máy về”. Lúc này lạc là mặt hàng xuất khẩu chiến lược. Lạc được dùng thay ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị về xây dựng đất nước. Bấy giờ miền Bắc đang trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, khí thế hừng hực khắp mọi nơi mọi chốn. Phố thị, làng quê cờ mở trống giong, khẩu hiệu, băng rôn rộn rã tưng bừng…
Nhưng rồi Mỹ ném bom miền Bắc. Đó là ngày 5/8/1964. Hôm đó đứng ở làng Bèo, Quỳnh Hậu chúng tôi vẫn nhìn rõ khói đen bốc cuồn cuộn góc trời đông nam. Kho xăng Hưng Hòa ở Vinh bị trúng bom. Đám cháy mấy ngày liền không dứt. Cùng ngày đó máy bay Mỹ còn ném bom Đồn Biên phòng Nặm Cắn, Hải Phòng, Hạ Long… Tiếp theo là những ngày bầu trời luôn ầm ầm tiếng máy bay gầm rú. Ga Cầu Giát bị ném bom, phà Hoàng Mai bị ném bom, rồi cầu Cấm, rồi thành phố Vinh… Ngày ngày, hễ sáng ra là từng tốp máy bay phản lực Mỹ quần thảo bầu trời. Không khí chiến tranh ngày càng nóng bỏng. Chúng tôi được phổ biến và hướng dẫn đào hầm, làm hầm trú ẩn. Sau thời gian ngắn nhà nào cũng có hầm trú ẩn. Hầm trong nhà, hầm ngoài vườn. Hầm làm theo kiểu hầm Triều Tiên có vì gỗ, áp ván áp phên, bên ngoài đắp đất dày, có thể trú được cả nhà. Ban đêm trẻ con ngủ trong hầm. Các trường học, các lớp học sơ tán vào các xóm. Các lớp học làm nửa nổi nửa chìm, có hào giao thông tỏa ra các hướng. Phố Giát phải giãn dân sơ tán bớt, một số gia đình phải lên vùng khe Ngang, khe Sái (xã Ngọc Sơn bây giờ), vừa lập nông trang vừa tránh bom đạn. Ngã tư Giát trở nên vắng vẻ hẳn. Chỉ những ai có nhiệm vụ mới ở lại và có mặt hằng ngày để canh gác, trực phòng không và sẵn sàng làm các nhiệm vụ khác.
Lúc này, nhà tôi cũng đi sơ tán lên miền núi. Từ miền núi Nghĩa Đàn trở về Quỳnh Hậu trọ học, tôi chứng kiến những ngày bom đạn ác liệt giặc Mỹ gây ra trên mảnh đất Quỳnh Lưu, gây ra cho phố Giát, thị trấn quê hương.
Ấy là năm 1967, hôm đó trúng phiên chợ Giát đang tan, người về đang đi đầy đường thì máy bay Mỹ dội bom xuống. Vậy là thịt nát xương tan, hàng trăm người đã chết. Hôm đó đứng bên Quỳnh Hậu nhìn vào tôi thấy khói đen đặc trời Cầu Giát. Sau trận tàn sát, huyện phải huy động dân quân mấy xã tới đào bới tìm xác. Phèo phổi chân tay người bị bom văng khắp mọi nơi khiến nhiều ngày sau làng xóm còn phảng phất mùi thối rữa.
Chiến tranh phá hoại lần 1 của Mỹ với miền Bắc đã làm sập đổ bao nhiêu nhà cửa, cầu cống, đường sá… và giết chết bao nhiêu người quê tôi? Bao nhiêu trai tráng lên đường đánh giặc, bao nhiêu người không về? Tôi có 3 người anh con bác là thợ may mặc ở phố Giát, cũng không về. Bác ở làng Bèo nữa, 1 chị chết do bị bom bi ném vào làng, 1 anh hy sinh ở chiến trường. Chiến tranh làm dở dang mọi dự định của quốc gia cũng như mỗi nhà, mỗi người. Tạm yên được 4 năm từ 1968 thì năm 1972 Mỹ ném bom đánh phá trở lại. Tháng 5/1972, tôi từ nơi dạy học trở về tạm biệt bố mẹ, tạm biệt người yêu để lên đường đánh giặc. Rời phố Giát, tôi ra đi dưới vòng cung lửa, đạn pháo từ tàu giặc ngoài biển câu vào đỏ trời đêm thị trấn quê hương… Tôi đi xa không được chứng kiến, hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, người phố Giát đã chiến đấu dũng cảm. Máy bay Mỹ trúng đạn 12ly7 của trận địa dân quân trên rú Đồn bốc cháy trên cánh đồng phố Giát… Cũng như bao vùng đất trên đất nước Việt Nam, Cầu Giát hòa mình vào công cuộc giải phóng miền Nam bằng tất cả sức người sức của.
Đất nước hòa bình thống nhất, non sông liền một dải. Phố Giát lấy lại sức sống và tươi vui lên từng ngày. Người đi sơ tán trở về, các hợp tác xã tiếp tục sản xuất, làm ăn, quán hàng lại nhộn nhịp. Lúc này mới nhận ra phố Giát, thế hệ đầu tiên, những người có mặt lập nên phố Giát đã rơi rụng dần. Thế hệ tiếp theo nào ông Cờ, ông Ngọc Lạn, ông Điền, ông Yên, ông Tịnh Ký, ông Thi kẹo, ông Chấn Hưng Long… Rồi bà Phúc, bà Lộc… cũng lần lượt ra đi.
Không sinh ra, không lớn lên ở đây nhưng tôi vẫn nhớ như in phố Giát của ngày xưa. Phố Giát có ngã tư trung tâm, có hai hàng cây vông dọc bên đường chính để người đi xa nhớ về, để lớp trẻ lớn lên sau ngày đất nước yên bình tự hào với dãy phố quê rợp xanh bóng mát của sự yên bình và sầm uất.
Sau ngày thống nhất, như mọi vùng đất, phố Giát cũng trải qua những năm tháng gian nan. Đói nghèo thiếu thốn trong tư duy ấu trĩ, bị cấm chợ ngăn sông, người người lao đao trong việc kiếm miếng cơm tấm áo. Lên rừng kiếm củi, mót sắn, mót khoai. Bám ga tàu mót than, vét đạm, vét lân rơi vãi, bóc vỏ gỗ làm củi, theo tàu buôn kiếm mớ khoai, mua cam, mua củi, bán nước, bán bánh… Lao đao tần tảo… Rồi khó khăn cũng qua dần. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bị xóa bỏ, thay vào bằng sự Đổi mới, phá bung mọi rào cản, và nguồn năng lượng vốn bị kìm nén đã bung mạnh mẽ. Cũng như mọi vùng đất khác, phố Giát đổi thay từng ngày.
Phố Giát đổi thay, với thế hệ người phố Giát thứ ba. Vẫn còn đó tiệm thuốc bắc “Chấn Hưng Long”, của anh Hùng, con trai cụ. Vẫn còn đó phở Yên của vợ chồng anh Lập, quán cơm của anh Lưu, tiệm vàng An Phương, tiệm vàng Minh Khang, Tâm Đạt… mở mang phát triển. Tiếp nối nghề truyền thống của gia đình, anh Quang con cụ Chủng tiếp tục mở phòng răng… Hẳn cụ Chủng, cũng là dân Nam Định phiêu bạt thế hệ đầu tiên còn sót lại tới giờ. Hơn trăm tuổi rồi da thịt cụ vẫn đỏ au. Cụ vẫn tỉnh táo, vẫn đi lại vào ra. Con cháu nhà cụ Tịnh Ký giờ buôn bán vàng bạc, kinh doanh khách sạn… rất thành đạt và giàu có. Bộ mặt thị trấn giờ đã lắm đổi thay. Xoay quanh ngã tư là trung tâm thương mại mới xây dài rộng nguy nga ngập tràn hàng hóa. Tiếp đó là các ngân hàng Agribank, SHB, là Thế giới Di động và các tiệm đồng hồ… Ngã tư đi vào có cơ ngơi của Đức Tài Tâm Đạt tấp nập bán mua, có chợ Giát xây mới với những dãy kiot ngập tràn hàng hóa. Ngã tư xuôi hướng đông xuống các xã vùng biển, đoạn này được mở rộng, chỉnh trang có cơ quan của Ủy ban huyện và Huyện ủy quy củ, nghiêm trang. Thị trấn mở rộng, đoạn đường kéo dài xuống tận xã Quỳnh Bá này được quy hoạch mới khang trang và hiện đại, có thể coi đây là niềm tự hào của phố Giát. Cầu Giát có đoạn phố chạy qua trước mặt trường Trung học Cơ sở thị trấn Cầu Giát nhộn nhịp hàng quán, tấp nập bán mua rất sầm uất…
Cầu Giát – thị trấn quê tôi, tính từ lúc manh nha tới nay đã ngót thế kỷ. Ngót thế kỷ với biết bao thăng trầm, Giát vẫn mang trong mình nét hào hoa lịch lãm phảng phất văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Để theo cùng nhịp độ phát triển của đất nước, phố Giát quê tôi có phần nhọc nhằn. Phố xá chật chội, cũ kỹ, đường sá nhỏ hẹp, ngoắt ngoéo. Chỗ ngã tư trung tâm, được coi như biểu tượng, như linh hồn của phố Giát, thay vì được mở rộng thì người ta lại xây cái cầu vượt theo hướng đông – tây như trùm lên, như che ngang tầm nhìn và đè nặng lên không gian ngã tư. Nơi đây vốn nhỏ hẹp giờ như nhỏ hẹp hơn.
Như đã nói, phố Giát nổi tiếng với những phiên chợ Tết. Nhiều năm gần đây, hễ vào những ngày giáp Tết phố xá tràn ngập sắc hoa. Từ khoảng hai mươi tháng Chạp, hoa mọi miền đổ về phố Giát. Mai miền Nam, đào miền Bắc, đào Lào, đào từ biên giới… Hoa Đà Lạt, hoa Hà Nội, hoa từ các làng nghề, đủ các giống hoa, đủ các loài hoa, nào lay ơn, cẩm chướng, hoa ly, hoa huệ, hoa cúc, hoa phăng… Hàng Tết vô cùng phong phú dồi dào có ở hang cùng ngõ hẻm, mua lúc nào cũng được. Đời sống ngày mỗi cao, người nhiều tiền giờ đây chú trọng đời sống tinh thần, hoa không thể thiếu trong không gian ngôi nhà đẹp. Bởi thế mà chợ hoa quanh ngã tư và xuống tới giáp xã Quỳnh Bá, dòng người mua sắm luôn tấp nập đông vui.
Tôi viết những dòng này khi đã gần hết năm. Sẽ tới những ngày Tết mà phố Giát tràn ngập sắc hoa xuân. Người phố Giát vẫn giữ cho mình nét phong lưu vốn có. Tết ngày một đủ đầy, Tết sau sung túc hơn Tết trước, cho dù có lúc nào đó, trong ngà ngà men rượu mà có người cảm thán: “Trong nhà nhất mẹ nhì con, đi ra lắm kẻ còn giòn hơn ta”. Ấy là người có dịp đi xa, từ các nơi trở về than thở. Mấy chục năm rồi, Giát thay đổi chẳng bao nhiêu so với thiên hạ. Tuy vậy, người phố Giát vẫn luôn nhìn về phía trước mà tin vào cuộc sống, tin vào tương lai. Phố Giát sẽ sánh vai cùng mọi miền trong tâm thế một phố Giát hào hoa lịch lãm.
Nguyễn Ngọc Lợi















