26.6 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Cảm thức thời gian trong “Bài thơ thời gian” của Lê Quốc Hán

Nhà thơ Lê Quốc Hán đã có một hành trình thơ ca hơn 30 năm, với những ấn phẩm mang dấu ấn riêng: Lời khấn nguyện (1996), Bến vô cùng (1999), Mạc khải (2004), Bất biến (2009), May (2019)… Mới đây, đầu năm 2024, ông vừa ra mắt bạn đọc Bài thơ thời gian với 159 bài. Tập thơ nhỏ xinh, ấn tượng với tôi ngay từ trang bìa được trình bày giản dị, nhẹ nhàng mà tinh tế, gợi nhiều miên tưởng, như chính hồn cốt của thơ ông. Có lẽ sẽ có nhiều điều để bàn luận về tập thơ này. Với riêng tôi, gấp lại trang sách cuối cùng, tôi vẫn bị cuốn bởi biểu tượng thời gian vấn vít suốt cả tập thơ, dẫn dụ tôi qua rất nhiều cung bậc của cảm xúc và triền miên trong những suy tưởng, có khi được gọi thành tên và nhiều khi không thể…

Đúng như tên gọi của tập thơ, có nhiều điều về quan niệm, về biểu tượng thời gian đáng để suy ngẫm ở tập thơ này. Trong văn chương nói chung, thời gian nghệ thuật là một phạm trù rất đặc biệt. Hiểu đơn giản, thời gian nghệ thuật là thời gian được soi ngắm, cảm nhận qua lăng kính của người nghệ sĩ. Việc tái hiện các quá trình của đời sống diễn ra trong thời gian ở đây thường gắn với chuỗi cảm thụ, suy nghĩ, quan niệm chủ quan của tác giả, góp phần quan trọng tạo nên phong cách của mỗi nhà văn. Vì vậy, tìm hiểu quan niệm về thời gian được thể hiện trong tác phẩm cũng là một cách để tiếp cận, khám phá tác phẩm, hiểu thêm về tác giả.

Thời gian nghệ thuật trong Bài thơ thời gian của Lê Quốc Hán khá đặc biệt, đó là thứ thời gian có thể “chạm”, có thể “hái”, nhưng thoắt cái đã biến hình, đổi thay, khó nắm bắt. Thơ ông thường hay xuất hiện các cặp từ hô ứng như “vừa” – “đã”, “vừa” – “thoắt”, “chưa” – “đã”: “Vừa chớp mắt đã mơ” (Giấc mơ); “Tóc xanh vừa lỗi lời thề/thoắt thành mây trắng cuối hè bay ngang/ngu ngơ chạm phải ao làng/sen chưa kịp hái đã tàn trên tay”[1] (Bài thơ thời gian); “Như giọt mưa mùa hạ/chưa chạm đất đã khô/như que diêm trao lửa/thoắt biến thành hư vô” (Mong manh); “Chợ Cầu sớm họp chiều tan/chợ đời vừa nhóm đã tàn phút giây” (Quê xương rồng)… Những cặp từ hô ứng này thường gợi cho người đọc cảm nhận về một sự vận động, biến đổi của thời gian, của cái đẹp và nhân sinh. Lê Quốc Hán yêu cái đẹp, tin vào tình yêu, mê đắm cuộc đời. Nhưng cái đẹp trong thơ ông là cái đẹp mau tàn phai, khó nắm bắt, dễ vụt biến; tình yêu thì mong manh, dễ vỡ; còn cuộc đời thì ngắn ngủi, thoáng chốc, phù du “Đời, đo bằng gang tấc/thước thời gian vô cùng” (Giấc mơ). Không có điều gì là bền vững, là bất tử, là vĩnh viễn trước thời gian. Vì vậy, đọc thơ ông, dễ nhận thấy đằng sau những câu thơ kiệm lời, đằng sau những trầm tư, lặng lẽ chiêm ngắm bước chân vội vã của thời gian, là sự hụt hẫng, tiếc nuối, hoang hoải, đầy ắp những nỗi niềm…

“Bài thơ thời gian” – tập thơ mới ra mắt của nhà thơ Lê Quốc Hán

Lê Quốc Hán cũng thường hay sử dụng những cặp từ chỉ sự đối lập/sự vận động của thời gian: đó là sự đối lập giữa trạng thái vội vàng, bề bộn của ban ngày với cái tĩnh lặng, thảng thốt khi đêm về: “Ban ngày xoay xở sống/sấp ngửa một bàn tay/Đêm về nhìn lại bóng/giật mình ngỡ bóng ai” (Tự thán); Đối lập giữa sự thong dong, thư thả của buổi sáng với cái hối hả, vội vã của lúc xế chiều: “Buổi sáng ngày đi nước kiệu/xế chiều vó ngựa tên bay” (Ngày); Đối lập giữa may và rủi, giữa bừng nở và tàn phai liền kề nhau trong một sáng, một chiều: “Cuộc đời sớm rủi chiều may/bây giờ cát sỏi mai này kim cương” (Ngỡ), “Sớm gặp thiên thần/xế chiều quỷ dữ” (Sợ chỉ), “Phù dung sớm nở tối tàn/vẫn dài hơn kiếp hồng nhan giữa đời” (Bài thơ thời gian), “Ngậm ngùi sao kiếp phù du/ hương hoa đầu sớm sa mù cuối đêm” (Thu); Đối lập giữa tìm được và mất đi: “Nửa đêm ngỡ gặp gỡ rồi/sáng ra một giọt sương trời héo khô” (Tìm)… Thậm chí trong một bài thơ nhỏ, thời gian vận động qua cả ba thời điểm sáng/chiều/tối: “Sáng đi lễ Phát Diệm/đá nhìn ta nhân từ/Chiều vãn chùa Bái Đính/đá xếp bằng trầm tư/ Tối giữ lòng thanh tịnh/vằng vặc mảnh trăng thu” (Đá). Có những bài thơ tràn ngập những biểu tượng về sự vận động của thời gian “Ngày có gì lạ đâu/bình minh và chập choạng/Một bài kinh nguyện cầu/Tuần có gì lạ đâu/Thứ Hai sang Chủ nhật/vẹn nguyên một cái đầu/Tháng có gì lạ đâu/trăng mọc rồi trăng lặn/Niềm vui trộn u sầu/Năm có gì lạ đâu/tháng Giêng qua tháng Chạp/vẫn hỏi hoài một câu” (Hỏi)… Xác lâp những phạm trù đối lập về thời gian, một mặt nhà thơ đã thể hiện được cái nhìn biện chứng đối với thế giới khách quan, nhưng đến cùng, Lê Quốc Hán dường như vẫn quan tâm hơn tất thảy, là được bộc bạch cảm xúc của mình trước hiện thực đó, bày tỏ niềm tiếc nuối, ngậm ngùi trước sự mong manh của tình yêu, sự ngắn ngủi của cái đẹp, của thanh xuân, của kiếp người trong vòng luân chuyển liên tục của thời gian và cuộc sống.

Trong Bài thơ thời gian, Lê Quốc Hán cũng hay nhắc đến kiểu thời gian vô định, như: “Mấy tỉ năm”: “Phải mất mấy tỉ năm/Vượn người biết đứng thẳng” (Rình); “Vài tỉ năm”: “triệu  thiên hà chơi vơi/vài tỉ năm ánh sáng (Đo); “Nghìn năm”: “nghìn năm nửa lạ nửa quen” (Đường), “những gì hôm nay mới lạ giao thừa sau đã cũ mèm/bài thơ nghìn năm vách đá sao còn vạch lá ra xem” (Chén đời), “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo/nghìn năm vằng vặc rạng ngời soi” (Nhớ Ức Trai), “Ơi người nữ sĩ Thăng Long/nghìn năm hẹn mở hội rồng bay lên” (Cầu) “Cung đàn xưa nhặt thưa/, ấy nghìn năm cô lẻ” (Sám hối thu), “Nghìn năm sót lại/Điệu hò trên sông” (Âm thanh); “Trăm năm”: “Trăm năm thơ sẽ theo người/vùi trong hoa cỏ khóc đời phù du” (Tự khúc). Những con số gắn với ý niệm thời gian ở đây (trăm năm, nghìn năm, mấy tỉ năm…) không được xác định cụ thể, có vẻ câu chữ đang dẫn dụ người đọc đi về phía trục ảo của thời gian, đậm màu sắc tâm linh, hư huyễn, nhưng kỳ thực lại găm vào tâm trí người đọc những giá trị rất thực, bất biến của chân, thiện, mỹ. Ở đây có một sự kết hợp rất nhuần nhị giữa miền ảo với cuộc đời rất thực, giữa quá khứ và hiện tại, mà sợi dây kết nối là vẻ đẹp của “ánh sáng”, của “tâm thượng quang khuê tảo”, của cái tài, của vẻ đẹp bất tử nơi thơ và nhạc… Vì vậy, thơ Lê Quốc Hán giàu màu sắc tâm linh mà vẫn luôn ngời lên vẻ đẹp thường nhật của cuộc sống, thảng chút phiêu diêu, nhiều khi cô đơn đến rợn ngợp mà vẫn tin yêu, mê đắm cuộc sống trần thế này, như ông từng viết: “Niết bàn không màng tới/Thiên đường chẳng đắm mê/ phải vì một lời thề/ găm hồn vào hạ giới?” (Nẻo về).

Lê Quốc Hán cũng hay sử dụng kiểu thời gian không xác định ở thì tương lai. Gần nhất là “năm sau”, “tháng sau”: “vẫn biết năm sau cúc nở/vẫn biết tháng sau trăng tròn” (Biệt); xa hơn là “mai sau”: “Mai sau tới cõi vô hình/trắng tay người nhận chuỗi tình tôi đeo” (Mua), “Mai sau tới cõi Niết bàn/biết đâu còn được say tràn cung mây” (Mời rượu thanh minh), “Xin đừng mở vội ngày ơi/dám đâu nhìn thẳng mặt trời mai sau” (Sám  hối), “Mai sau thi sĩ về trời/ câu thơ ở lại với người mai sau” (Mai sau), “Rẻ khinh danh vọng giữa đời/Sao còn viết sách gửi người mai sau” (Hỏi Trang Tử). Xa xôi đến khắc khoải là “nghìn năm sau”:Sẩy chân sa xuống vực/gặp mình nghìn năm sau” (Giấc mơ), “Tôi là bông hoa dại/Ẩn mình giữa rừng sâu/chờ một người đến hái/cách một nghìn năm sau” (Tự bạch); rồi “kiếp sau”: “vui lòng cạn chén biệt li/kiếp sau gặp lại còn sau đền bồi” (Trở trời). Thậm chí có những khúc thơ triền miên, chới với trong cảm thức khắc khoải về thời gian vô định “Em hãy tin, hãy tin/mười năm, hai trăm năm/ba nghìn năm sau nữa/xuất hiện một trinh nữ/tưới nước mắt xuống bông hoa đã héo” (Vĩ khúc). Kiểu thời gian tương lai không xác định cũng góp phần phác nên một bức chân dung tinh thần tự họa của nhà thơ: nỗi cô đơn, khắc khoải, chênh vênh trong hiện tại và sự ngóng vọng, trông đợi vào tương lai… Tuy nhiên, thơ ông chưa bao giờ dừng lại ở nỗi tuyệt vọng, cảm thức về thời gian tương lai trong thơ ông luôn gợi ra, mở ra niềm tin bất diệt về con người, về cái đẹp, đúng như một nhận xét rất tinh của Nguyễn Sỹ Đại: “Thơ Lê Quốc Hán có nhiều nội dung, nhiều hình thức biểu hiện. Nhưng cốt lõi nhất, theo tôi là tiếng hát yêu thương, là những bổn kinh tạ ơn hay tin mừng về sự bất diệt của con người, về cái đẹp.”[2]

Nhà thơ Lê Quốc Hán

Cảm thức về thời gian trong tập thơ này còn được thể hiện trong những hình ảnh giàu tính biểu tượng: Có khi cụ thể như hình ảnh bàn tay sấp/ngửa “Ngửa bàn tay còn trắng/lật bàn tay đen rồi” (Ru); Có khi vụt lên với những liên tưởng bất ngờ: “Thời gian cong thành nỏ/hoa chuốt thành tên bay” (Hoa cỏ may); “hồng nhan trơ với nước non/thời gian chảy giữa mõm mòm câu thơ” (Tạ)… Lê Quốc Hán cũng có những câu thơ rất ám ảnh về hình ảnh mái tóc, đây là một biểu tượng về thời gian được sử dụng khá nhiều trong thơ ông: “Tóc xưa xanh một màu mây/Nay thành mưa trắng rơi đầy áo nhau” (Muộn); “Tóc xanh vừa lỗi lời thề/Thoắt thành mây trắng cuối hè bay ngang” (Bài thơ thời gian); “Bây giờ tóc đã thành sương/tìm đâu thấy lại nẻo đường tuổi thơ” (Đường). “Tóc rơi nhuộm trắng đêm rằm/sông xưa nghẹn đổi mấy lần phù sa” (Sông xưa)… Có  thể nói rằng Lê Quốc Hán có rất nhiều bài mà tứ thơ có sự hòa kết giữa thực và hư, giữa quá khứ và hiện tại, nhiều lúc chạm đến “lối viết tự động”, mà sản phẩm là những câu thơ giàu tính biểu tượng, nhiều sức ám gợi, thoạt đọc tưởng là ngẫu hứng, nhưng kỳ thực nó có chiều sâu từ những liên tưởng, xâu chuỗi thời gian, từ sự chiêm ngẫm, trải nghiệm của cả một đời người. Biểu tượng thời gian trong thơ ông vì vậy nhiều lúc nhuốm màu siêu thực.

Và trong cái vòng luân chuyển mải miết, vô tình của của thời gian, sau những va đập với cuộc đời, chủ thể trữ tình trong thơ Lê Quốc Hán vẫn thường có những cuộc lội ngược dòng, khao khát tìm về bản thể, được thể hiện qua rất nhiều câu thơ đầy ám ảnh ở tập thơ này: “Thời gian như chuyến tốc hành/mang theo lá đỏ và anh trở về” (Bài thơ thời gian), “những chiều giá lạnh buồn thiu/vọng nghe hồn thổi hắt hiu gọi: về (Nhiều khi), “Đoạn Trường nẻo cũ tìm về/giật mình chạm cánh hoa lê lạc đàn” (Nẻo về)… Trong những cuộc trở về đó, nhà thơ khắc khoải tìm lại bản ngã, tìm lại cái tôi của chính mình, gặp lại chính mình trong sự thảng thốt: “Vừa chớp mắt đã mơ/gặp mình nghìn năm trước… Sẩy chân sa xuống vực/gặp mình nghìn năm sau” (Giấc mơ), “Giật mình chiều tím chân mây/vẫn nguyên vẹn nợ như ngày sơ sinh” (Nợ), “Trái đất ơi ngược vòng quay/cho ta nhặt lại cái ngày đầu tiên” (Bài thơ thời gian). Đó là hành trình tìm lại chính mình sau những “gió mưa vần vũ”, “đất trời điêu linh”. Suy cho cùng, đó cũng là khát vọng khẳng định cái tôi, một cái tôi khiêm nhường, điềm đạm, nhưng nhất quyết phải riêng biệt, không trộn lẫn: “Tôi là con chim nhỏ/chỉ hót riêng giọng mình/mặc gió mưa vần vũ/mặc đất trời điêu linh” (Tự bạch).

Có thể nói rằng thời gian là một phạm trù đầy ám gợi trong Bài thơ thời gian của Lê Quốc Hán. Quan niệm về thời gian trong thơ ông dĩ nhiên là lấy cảm hứng từ hiện thực khách quan, có phảng phất dấu ấn triết lý vô thường của đạo Phật, trong đó mọi sự vật, hiện tượng từ vật chất đến ý thức, từ hữu hình đến vô hình đều luôn biến dịch, thay đổi. Tuy nhiên, Lê Quốc Hán đã có những ứng xử riêng, những quan niệm riêng về thời gian trong sáng tác của mình. Với cảm thức về thời gian, về nhân sinh vô thường, Lê Quốc Hán dĩ nhiên vẫn có những lúc giật mình, thảng thốt, thậm chí rợn ngợp, nhưng Bài thơ thời gian không dừng lại ở cảm giác tàn phai, tận cùng, mà dẫn người đọc đi dọc chiều thời gian, đến với cuộc đời bằng sự tươi mới, bằng khai sinh, với một cái nhìn thấu triệt. Bài thơ thời gian vì vậy còn là bài ca về cuộc sống và cái đẹp.

Cao Thị Anh Tú

[1] Bài viết xin được giữ nguyên cách trình bày câu thơ trong tập thơ Bài thơ thời gian của Lê Quốc Hán.
[2] Nguyễn Văn Đại, “Đọc Lê Quốc Hán, nghĩ về toán, về thơ và người”, báo Đại biểu nhân dân bản online tại https://daibieunhandan.vn/van-nghe/doc-Le-Quoc-Han-nghi-ve-toan-ve-tho-va-nguoi-i190141/ (truy cập ngày 21//5/2024).