28.4 C
Vinh
Thứ Tư, Tháng Sáu 19, 2024

Cảm thức quê trong “Làng ơi” của Đinh Hạ

Làng ơi, Nxb Hội Nhà văn, 2020 là tập thơ thứ hai của Đinh Hạ. Đọc tập thơ, ta bắt gặp nỗi hoài niệm miên man, đằng đẵng về cảnh quê, tình quê. Ở đó có đau đáu phận người, có dáng mẹ, bóng cha, có những kỷ niệm tuổi thơ dội về. Trong “Làng ơi”, ta bắt gặp một đôi mắt đượm buồn của người thơ nhìn về xa xăm. Trong “Làng ơi”, ông giáo làng Đinh Hạ có hơi “bảo thủ” song đó là cái bảo thủ đáng yêu của một người muốn giữ lại hồn quê bởi trong cảm thức của Đinh Hạ, chất quê đã dần mai một, chất phố cứ lấn dần chất quê.

Không phải ngẫu nhiên mà Đinh Hạ đặt tên cho tập thơ là “Làng ơi”. “Làng ơi” là tiếng gọi thiết tha về những ngày xưa yêu dấu không thể nào quên vẫn còn gim trong tiềm thức người thơ, đó còn là tiếng thở dài về cõi nhân sinh và về những giá trị truyền thống của làng đang dần mai một.

Cấu tứ của tập thơ được chi phối bởi cảm thức của nhà thơ về làng, một làng quê cụ thể, xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An quê anh, và cũng là những làng quê xứ Nghệ xưa, thời anh còn mặc quần đùi đi chăn trâu, bắt cá, nướng khoai và chơi những trò chơi con trẻ.

Không gian làng quê quen thuộc được đặc tả qua cơ man những hình ảnh thơ như: cánh chuồn, bến nước, giếng làng, lũy tre, hoa nhài, dưa cà, cổng làng, nghĩa địa làng, cánh đồng, rơm rạ, hội làng…

Trung tâm cảm xúc của tập thơ đọng lại và lan tỏa từ bài “Làng ơi”, bài thơ được tác giả đặt tên cho tập thơ.

Trong bài “Làng ơi”, tác giả đã vạch ra một ranh giới giữa làng và phố. Làng là một phạm trù mà anh muốn nó là một hằng số bất biến, phố lại là những biến số, nó có thể kéo theo sự thay đổi của làng. Hai không gian dường như có sự xung đột, thực ra là xung đột trong cảm thức nhà thơ chứ không phải xung đột trong bản chất sự vật.

Ngay từ đầu bài thơ, Đinh Hạ đã vạch ra ranh giới giữa làng và phố. Bên kia Đinh Hạ đứng, từ phố nhìn về quê mà chạnh buồn:

“Sơn hào hải vị phố phường
Nhiều khi chán ngấy, thèm cơm quê nhà
Nạm rau vặt, mấy quả cà
Mà bao yến tiệc xa hoa chẳng bằng”

Cái ranh giới làng – phố đã tạo nên kết cấu, lập ý cho toàn bài thơ: điều hòa – gió bờ tre; vướng vít còi xe – ước về trâu cưỡi; tắc đường vì mưa – thèm cởi truồng tắm mưa; hờ hững bắt tay – lời chào hỏi thiết thân….

Qua đối sánh giữa làng và phố, Đinh Hạ bày tỏ khát khao được sống trong cõi bình yên ấy, một làng quê nghèo mà tươi đẹp, nghĩa tình. Có ai mong muốn xa quê, nhưng người quê anh từng lũ lượt đi vào các tỉnh miền Nam kiếm sống. Đinh Hạ xót xa chứ không giận, anh lại thổn thức hai chữ thân phận người quê:

“Làng ơi, cơm áo mải mê
Bao giờ buông bỏ mà về. Làng ơi!”

Ranh giới giữa làng và phố trong thơ Đinh Hạ được cụ thể hóa bởi cổng làng. Nó vừa là một điểm nhấn, vừa là một tín hiệu thẩm mĩ. Cổng làng là nơi hội tụ chất quê trong đời sống vật chất, tinh thần của mỗi làng quê. Ở đó, ta bắt gặp những: “Cổng làng bóng mẹ hao gầy”; “Nơi mẹ đợi suốt xuân thì/ Và bao chinh phụ khóc vì chiến tranh”; “Cổng làng khắc một cái tên/ Chị ngồi nhớ lại những đêm hẹn hò”; “Cổng làng bóng mẹ hao gầy”… Bên này cổng làng là quê, bên kia cổng làng đã là phố. Cái ranh giới mong manh ấy Đinh Hạ rất sợ bị xóa nhòa. Cũng may, bên kia vẫn còn một “cánh đồng xanh”:

“Cổng làng nối cánh đồng xanh
Đưa em ra chốn thị thành đông vui”

Trong không gian làng, hình bóng bà, hình bóng mẹ cha luôn ám ảnh nhà thơ. Với Đinh Hạ, làng là mẹ, trong làng có mẹ, trong mẹ có hồn làng. Đinh Hạ không viết riêng một bài nào về mẹ nhưng hình ảnh mẹ lại xuất hiện nhiều nhất trong tập thơ. Những hình ảnh mẹ tảo tần mưa nắng hiện lên thật xúc động trong không gian làng quen thuộc: “Nhớ từ siêu nước của cha/ Dáng mẹ bên bếp nấu cà, luộc khoai” (Nhớ khói); “Mênh mang bóng mẹ bên đời/ Con khao khát một chân trời ấu thơ”; “Lời ru bóng mẹ nao nao/ Mưa chiều nay ướt thuở nào mưa ơi” (Lời ru); “Mẹ ngồi bậu cửa ngó ra” (Thưa mẹ, Tổ quốc); “Mẹ đưa tháng Chạp lên chùa” (Tháng Chạp); “Còn bao Tết nữa mẹ ơi/ Cùng con thức đợi bên nồi bánh chưng” (Về quê đón Tết)…

Nhớ quê, Đinh Hạ rưng rưng nhớ hương vị tết, mùi tết: “Nhớ về Tết cũ rưng rưng/ Lá dong, nuộc lạt, bánh chưng, bánh giày”. Đặt mình trong tâm thế đứa con xa quê mà không được về quê đón Tết, cảm thức Tết trong thơ có gì đó tủi hờn, nỗi buồn thân phận lại dâng lên trong lòng người thơ Đinh Hạ:

“Dáng cha ngồi gói bánh chưng
Tết xa quê nhớ cứ rưng rưng… buồn”.

Trong nhớ có thương, thậm chí có gì hờn giận, trách móc…

“Bao người bỏ xứ ra đi
Nhớ ngày giỗ tổ mà về nữa không”
(Hội làng)

Nhưng trên trên hết vẫn là nỗi cảm hoài, thấu hiểu, chia sẻ với người quê, bởi anh biết, người ra đi cũng chỉ vì tấm cơm manh áo, vì cơ cực kiếp người:

“Tha hương vời vợi bóng làng
Nỗi buồn xa xứ Tết càng lênh đênh”
(Mùa Tết)

Hay:

“Quê ngèo tứ tán phương xa
Nghe ví giặm cứ thiết tha muốn về”
(Dạ thưa… xứ Nghệ)

Hơn một lần, dáng cha lại hiện về xúc động, nghẹn ngào trong thơ Đinh Hạ. Bài “Khóc cha” là tình cảm phụ tử thiêng thiêng:

“Khóc người trong cõi thiên thu
Trần gian con gọi mịt mù khói hương”

Lúc sống cha đã vất vả vì con, sang bên kia thế giới, biết cha có được an nhàn hơn những ngày trần gian:

“Lẻ loi góc nghĩa địa làng
Người nơi chín suối đã nhàn tấm thân”

Nghĩa địa làng, nơi cha an nghỉ và cùng là nơi trú ngụ của bao linh hồn người quê. Trong tâm thức Đinh Hạ, nghĩa địa làng cũng là một xóm nhỏ. Đó không đơn thuần chỉ là nơi chôn cất người quá cố. Ở đó bao gương mặt thân quen lại hiện về, đó còn là cõi nhớ:

“Đây người phố xá thênh thang
Cuối đời gởi nắm xương tàn cố hương
Đây người tai nạn vô thường
Đây em đuối nước từ hôm nghỉ hè”
(Nghĩa địa làng)

Viết về nghĩa địa làng, Đinh Hạ lại rưng rưng hai chữ “phận người”. Cảm thức về phận người mong manh, khi sống trải bao đau khổ, khi chết vẫn không được an yên kiếp người lại chi phối mạch thơ Đinh Hạ:

“Đây người xạ trị di căn
Xác thân về đất nợ nần ngổn ngang”.

Trong muôn vàn hình ảnh thân quen, hình ảnh bà hiện lên thật ấm áp. Bà cũng được đặt trong không gian làng, không gian nhuốm màu cổ tích: “Còn đâu nồng ấm mùi trầu/ Tuổi thơ cháu vẫn rúc đầu ngủ mê” (Ngày giỗ bà).

Trong “Làng ơi” ta thấy xuất hiện bóng hình của người con gái, “em” là người để lại cho Đinh Hạ nhiều ngậm ngùi, nuối tiếc. Người ta thì lần tràng hạt để tránh sân si. Đinh Hạ ngược lại, anh tự đặt mình vào cõi si mê:

“Lần tay xâu chuỗi si mê
Chông chênh lạc bước tìm về bến em”
(Vô đề)

Chắc thời trai trẻ Đinh Hạ cũng yêu theo thói quê, yêu mà không dám nói, nên đã lỡ đò. Anh thầm trách mình, thầm thương người ấy khi người cất bước vu quy: nào là thương em lấy chồng xa, nào là thương em tuổi vụng về, thương em lỡ sa vào chốn vô thường, thương em phận gái quê mùa… (Gửi người sang sông).

Yêu rồi lỡ bước sang ngang nhưng Đinh Hạ cũng không thẳng thắn nhận lỗi về mình, anh lần lữa dãi bày: “Thương em phận gái quê mùa/ Mẹ trách tôi gã trai tơ biết gì” (Gửi người sang sông).

Sau bao lần lỗi hẹn, Đinh Hạ vẫn cố tỏ ra hờ hững: “Huống gì/ Chỉ một lời yêu/ Mỏng manh/ Như khói lam chiều/ thoảng qua”. Nhưng rồi cuối cùng, anh cũng phải thú nhận: “Chia tay/ Sao lại không buồn/ Quay đi/Và khóc ngút ngàn chân mây” (Tiễn tình).

Nhớ quê là nhớ những đêm trăng, nhớ hội làng, nhớ chợ quê, nhớ tiết giao mùa, nhớ những trò chơi con trẻ… những gì của quê cũng đều gợi nhớ, gợi thương, cũng đều vấn vương trong cõi nhớ.

Chợ quê là nơi phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của dân quê: “Chợ quê họp ở đầu làng/ Như tấm gương chiếu cơ hàn dân quê”. Chợ quê nghèo, chỉ “vài đồng bạc lẻ”, “mớ tép”, “gánh lúa”, “gánh khoai” “cau trầu”… Nhìn cảnh chợ quê mà thương, thương hơn bởi đó là cả gia tài của dân quê, họ phải vất vả lo toan hằng ngày mới có được:

“Đoàn người đi chợ trên đê
Ghánh về bao nỗi bộn bề nắng mưa”
(Chợ quê)

Đinh Hạ khá khéo léo trong vận dụng ca dao, tục ngữ và những chất liệu văn học dân gian. Những hình ảnh thơ đậm chất ca dao trong “Làng ơi” thường gợi, thường được lồng ghép vào bằng một ngôn ngữ mới: “Bao giờ cho gỗ hóa trầm/ Để ta tìm lại nụ tầm xuân xưa”; “Thương em phận mỏng cánh chuồn/ Mười hai bến nước váy buông quê người”; “Mười hai bến nước làm dâu/ Chiều chiều có đứng ngõ sau trông về”; “Ba đồng… một lá trầu cay/ Chậm chân nên hóa cơn say một thời”; “Chẳng còn bến cũ đò xưa/ Ruộng em người đã be bờ xới vun”; “Vàng anh không đậu xoan đào/ Để thương quả thị rụng vào bị ai”…

Người thơ lụy đến chữ tình là khổ, Đinh Hạ hơn thế, anh lụy đến “cõi tình”: tình người, tình đời, tình quê, tình yêu đôi lứa… Trái tim lắm đa đoan, không biết người thơ Đinh Hạ có khổ khi nhìn đâu cũng đau đáu nỗi niềm. Đinh Hạ đã chọn thể thơ lục bát để trao gởi những biến tấu của lòng người khi viết về quê. Nó như bộ nâu sòng phù hợp với người quê, chất quê, tình quê hơn một bộ cánh tân thời. Cũng phải nói đến những cung bậc cảm xúc dạt dào và vốn ngôn ngữ phong phú của tác giả. Chính vì vậy Đinh Hạ ít khi bí từ, ít khi gieo vần gượng gạo.

Hữu Vinh

VIDEO