Bữa sáng vội vàng

Người Thái ở Quỳ Châu chuẩn bị bữa cơm ngày Tết Độc lập. Ảnh: Hữu Vi

Trong những giấc mơ của tôi thi hoảng vẫn hiện về bữa sáng gia đình thuở ấu thơ. Khi ấy tôi khi sáu tuổi. Bữa sáng còn ông bà nội, cha mẹ và chú út tôi. Ngồi ăn có ông bà nội, cha, mẹ, chú út. Ba đứa em của tôi một lên bốn, một đang bi bô tập nói. Em gái út thì mẹ tôi hãy còn ẵm ngửa trên tay. Bữa ăn, đương nhiên rồi, diễn ra nơi căn nhà sàn lợp lá cọ. Lượng người ngồi ăn như vậy không nhiều nhưng theo tục lệ phải chia làm hai khu vực. Tôi được phép ngồi ăn cùng những người đàn ông ở gian ngoài. Mẹ, bà và hai em nhỏ ăn trong gian bếp. Tục lệ thời đó không cho bố chồng ngồi ăn cùng con dâu.

Thời đó kiêng rất nhiều thứ, đến nỗi tôi không còn nhớ được hết. Chỉ có căn nhà sàn mái cọ um tùm khói mỗi sớm mai thì không bao giờ quên. Gà gáy canh ba, tầm bốn giờ sáng tôi thường bị đánh thức bởi tiếng giã gạo cum cum của mẹ và bà nội nơi chiếc lán cối cạnh nhà. Cum cum cum đều đặn. Tôi bị đánh thức rồi chính những âm thanh đều đều kia lại dẫn tôi vào giấc ngủ. Tôi sẽ bị đánh thức lần nữa bởi mùi khói và mùi xôi từ gian bếp. Ở gian ngoài nơi đặt bàn thờ ông bà vải, tôi tung chăn và rời khỏi chiếc phản gỗ. Chú tôi có thể đã dậy trước hoặc vẫn còn ngủ vùi bởi đêm qua chú theo chúng bạn đi “tìm hiểu” đến tận khuya. Họ có mang theo đàn guitar, đèn pin, đôi khi cả côn nhị khúc đi hết làng này đến bản nọ. Đèn pin đương nhiên rồi để nhìn đường đi. Đàn guitar thì để “ve vãn” các cô gái. Côn nhị khúc thì để phòng thân lỡ khi gặp sự cố trai làng khác khiêu khích.

Nhưng thứ đó với một đứa trẻ sáu tuổi thì chẳng ý nghĩa gì, tôi chỉ quan tâm đến mùi xôi nếp, mùi thịt nướng, mùi canh rau tỏa ra từ căn bếp. Trẻ con mà, chỉ nghĩ đến ăn, thời đó còn nghĩ đến học chữ nữa. Chính vì ganh đua với chị hàng xóm trên một lớp mà chưa vào lớp Một, tôi đã biết đọc thông viết thạo.

Người Thái ở Quỳ Châu chuẩn bị bữa cơm ngày Tết Độc lập. Ảnh: Hữu Vi

Có mùi xôi nghĩa là mẹ tôi và bà đã giã xong mấy cối gạo từ lâu. Trời đã sáng, tầm hơn 6 giờ. Ông nội và cha thì đang mài dao cạnh giếng nước. Mùa hè cần dao sắc đi phát rẫy, các mùa khác cần dao và rìu để lên rừng. Thời đó, cha tôi có đi săn và lên rừng đốn gỗ bán cho đầu nậu, ông tôi đã nghỉ hưu sau hơn 30 năm dạy học, sáng dậy ông vào rẫy là một bãi đất rộng chừng bốn mẫu Bắc Bộ trồng lạc, nuôi gà và trâu bò. Chú tôi có thể lên rừng hoặc theo ông vào rẫy. Thanh niên chưa vợ được tự do hơn, không cần có kế hoạch làm việc.

Mẹ và bà đã chuẩn bị xong bữa sáng. Bên giếng nước, tôi cũng rửa mặt xong rồi tót lên cầu thang. Cha đã chuẩn bị sẵn ấm nước chè cho cả nhà uống sau bữa sáng. Sương lan từ núi xuống vườn cọ, quanh quẩn trên tán mít, bưởi, hàng cau. Mái cọ nhà sàn trong bản bàng bạc, mờ ảo trong sương. Hôm nay sẽ nắng to. – Ông nội nói.

Tôi tót lên cầu thang, nhảy qua bậu cửa rồi chạy tuốt vào gian giữa. Bữa sáng đã bày sẵn trên chiếc mâm bằng gỗ. Xôi đựng trong những chiếc hộp hình trụ đan bằng nứa gọi là “ép” chia thành ba phần. Tôi bé nhất và ông nội quyền uy nhất được mỗi người một phần riêng. Cha và chú út ăn chung. Ép xôi nào hết có thể lấy thêm. Thức ăn có cá mắm nướng giã với lạc, thịt gà hoặc lợn và canh rau. Bữa ăn sáng thường chế biến vội nên chỉ có thế. Ông nội thường ăn nhanh nhất nhà, chỉ một loáng nửa ép xôi đã hết veo. Cha và chú có thể nhẩn nha, từ tốn chuyện trò. Gian trong ở gần bếp lửa, bà ngồi ghé bên mâm, chân để thẳng. Năm ấy bà đã ngoài 60, luôn đau mỏi gối rất khó khăn khi gập chân. Mẹ một tay ẵm em bé, tay kia gắp thức ăn, lúc cúi khi ngẩng đầu. Em gái lớn của tôi và thằng em thứ ba đã biết tự xúc ăn. Thời đó trẻ nhỏ cỡ 2 tuổi là chẳng cần phải đút thức ăn nữa. Mâm của bà và mẹ cũng có xôi, cá nướng giã với lạc, canh. Hai em tôi được thêm mỗi đứa một quả trứng luộc.

Bữa ăn đơn sơ vậy nên cũng chóng vánh. Chưa đầy mươi phút, ông nội đã thả đũa cái rộp trên mâm rồi đứng lên và ra gian ngoài ngồi uống nước chè. Sau đó chừng dăm phút chúng tôi cũng lần lượt rời khỏi mâm cơm. Tôi theo cha và chú ra ngồi bàn uống nước. Đó cũng là thời điểm tôi làm quen với việc uống nước chè. Húp xong bát nước, ông xuống chuồng trâu dắt con đực lớn ra và đi vào rẫy. Tôi lon ton chạy theo trong khi mẹ và bà vẫn còn ngồi bên mâm cơm. Phụ nữ thường ăn chậm một phần vì còn lo cho các em nhỏ nên bữa cơm của mẹ thường kéo dài cả giờ đồng hồ.

Thời đó, chúng tôi thường chỉ học một buổi chiều nên sáng ra có thể thảnh thơi ăn uống và theo ông lên rẫy. Non trưa mới trở về đeo cặp đi học. Tôi được cái cặp da thời ông còn công tác nên không phải xách giỏ cước như chúng bạn. Ngày hè được nghỉ học, tôi có thể ngủ lại trong căn chòi cùng ông và hỏi đu thứ chuyện trên đời. Đương nhiên nếu tối đó ông ở lại rẫy.

Sau bữa sáng, cha và chú tôi vác rìu, dao lên rừng phát rẫy. Mẹ tôi sẽ lên sau khi đã lo cho các em nhỏ ăn uống xong và giao bé út cho bà giữ.

Bữa sáng thuở ấu thơ của tôi là thế. Thời đó còn chưa bỏ hẳn bao cấp nên đa phần dân bản đều nghèo. Cả cộng đồng chỉ lác đác vài ngôi nhà lợp ngói. Cả cộng đồng chẳng mấy nhà không làm rẫy và trồng lúa nếp. Ruộng vẫn ít và năng suất bấp bênh. Vì thế mà có thể nói rằng tôi đã lớn lên nhờ xôi nếp, vừng lạc, cá mặn. Có cả thịt gà, thịt thú rừng.

Nhiều nhà trong bản cũng có những bữa sáng vội vàng như nhà tôi. Sau này tôi còn biết rằng, không chỉ quê tôi mới có những bữa sáng vội vàng dưới mái nhà sàn như thế. Đây đó, trên những địa phương miền núi, dù đời sống đã khác xa cuối thời bao cấp nhưng cuộc sống nương rẫy thì vẫn còn. Những bữa sáng vội vàng như trong câu chuyện của tôi có sự chi phối từ việc canh tác lúa nương, săn bắt, hái lượm.

Cuộc sống hái lượm, dựa vào thiên nhiên vẫn còn đây đó. Ngoài đời thực chứ không chỉ còn trong những giấc mơ của tôi.

Minh Nguyệt