Ba Vì – nơi Người ở lại

Chúng tôi đến K9 trong một buổi sáng phủ sương, đó là thời khắc Hà Nội như thể đã chớm đông từ hôm qua, mặt trời còn ngái ngủ sau đỉnh non Tản, những vạt rừng già ướt sũng hơi ẩm, mùi đất và lá trộn lẫn mùi gió sông Đà thổi về nhen lên chút se lạnh. Con đường nhỏ uốn quanh triền dốc, như một sợi chỉ diệu kì kết nối con người với miền ký ức thiêng liêng. Chúng tôi đi, vừa háo hức vừa bâng khuâng, bất chợt thấy dâng lên trong lòng cảm giác vừa thân thuộc vừa huyền ảo. Thân thuộc bởi hình ảnh Bác vẫn ở trong trái tim dân tộc, trong niềm yêu kính của mỗi người, huyền ảo bởi không gian này dường như vẫn giữ hơi thở của Bác, trầm ấm, linh thiêng.

Đoàn văn nghệ sĩ Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An dâng hương tưởng nhớ Bác tại Khu di tích K9

Về với Ba Vì, nơi đất trời giao hòa, nơi sông Đà uốn khúc như dải lụa xanh ôm lấy chân núi. Không gian núi rừng hùng vĩ mà thanh khiết, từ đỉnh núi, nhìn về phía Thủ đô, ta thấy thế đất rồng chầu về kinh, mây vờn như áo giáp che chở. Người xưa gọi đây là “đất thiêng”, chỗ tụ hội linh khí sông núi ngàn năm. Có lẽ vì thế mà ngay lần đầu đặt chân đến đây, với nhãn quan tinh nhạy Người đã nhận ra vị trí “trời ban” này. Người đã bàn với các đồng chí trong Bộ Chính trị chọn Đá Chông làm căn cứ địa cách mạng phòng Mỹ mở rộng chiến tranh ra phía bắc. Đá Chông sau đó thành căn cứ đặc biệt, mang mật danh K9.

Thực ra cách đặt tên cho căn cứ địa K9 là theo kí hiệu trong hệ thống mật danh quân sự, theo đó, K9 chỉ là tên mã bí mật thứ 9 trong chuỗi các căn cứ như K1, K2… để đảm bảo an toàn, tránh lộ vị trí thật. Tuy nhiên K9 còn là địa danh gắn liền với bao điều huyền mật. Cũng có người kể lại rằng, giữa năm 1957, khi Bác lên thăm vùng Đá Chông, nhìn thấy thế núi trùng điệp, dòng sông Đà soi bóng rừng cây, Người dừng chân hồi lâu, lặng nghe gió thổi qua tầng lá, rồi Người khẽ nói: “Đất này có mạch nguồn tốt lắm.” Không ai rõ Người nghe được gì trong tiếng gió, chỉ biết rằng sau đó, nơi đây trở thành một trong những địa điểm đặc biệt của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Thủ đô. Cái tên K9 từ một con số đơn giản hóa thành mật danh thiêng liêng, mang linh cảm của Người gửi vào lòng đất mẹ.

Ấn tượng đầu tiên với tôi khi đến với K9 là bạt ngàn cây xanh, những thân cây vươn thẳng, mạnh mẽ, kiêu hùng như dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ. Trong vô vàn cây xanh quanh đây, hẳn du khách sẽ có ấn tượng đặc biệt với hai cây vàng anh. Đó là món quà do anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghec-man Ti-tôp trồng tặng năm xưa, giờ tán đã tròn, lá xanh mướt, đứng song song trước nhà sàn như minh chứng cho tình hữu nghị Việt – Xô đời đời bền vững. Tôi chạm vào thớ vỏ thân cây, nghe mạch nguồn đang chảy, nghe sông Đà lặng hát, thấy xốn xang miền huyền thoại gọi tên. Gió lùa tấm khăn lụa khoác hờ trên vai áo, gió mang theo hương ngọc lan thơm ngọt cả không gian. Trong khoảnh khắc ấy, tôi tưởng như thấy bóng áo nâu của Người thấp thoáng giữa rặng cây, thật gần, thật bình an lạ thường.

Không biết bạn đã có cảm xúc thế nào khi men theo con đường 81 bậc dẫn lên nhà sàn của Bác nơi đây. Còn tôi, trái tim lặng đi rồi bất chợt ngân lên câu hát ấy “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”. Người hướng dẫn bảo: “Đó là con đường Bác từng đi.” Tôi chậm rãi bước từng bậc. Mỗi nhịp chân gõ lên đá, vang lên âm thanh trầm khẽ như tiếng nắng xuyên qua phên nứa. Như thể bị đánh thức, những viên sỏi va vào nhau xôn xao, rộn rã… Trong bài học lịch sử ngày xưa, tôi đã nghe thầy kể về con đường sỏi cuội như là sáng kiến đặc biệt của Bác. Hôm nay, được đến đây, đặt bàn chân lên con đường ấy, cảm xúc thiêng liêng, xúc động dâng trào. Con đường sỏi cuội vàng óng uốn quanh nhà như một bức tranh. Tôi lắng nghe tiếng sỏi dưới chân mình, âm thanh khẽ vang lên trong sương sớm, nhỏ thôi mà sao thiết tha như lời vọng từ quá khứ. Với tôi, tiếng sỏi như là giọng nói của rừng già, của đất mẹ, của biền bãi sông Đà… Tôi nghe như đâu đây lời nhắn thầm của Bác “hãy sống giao hòa và cống hiến, hãy đi và cảm nhận để thấy mỗi viên cuội là một cuộc đời đang thầm thì kể chuyện”. Chao ôi, mỗi viên sỏi nơi này dường như vẫn giữ hơi ấm bàn chân Bác, vẫn ngân vang nhịp bước của những ngày kháng chiến gian lao mà thanh sạch.

Thế đấy, có những con đường không đo bằng thông số kĩ thuật mà đo bằng tấm lòng người đi qua. Con đường 81 bậc ấy, không chỉ dẫn lên ngôi nhà sàn, mà còn dẫn chúng ta về một miền ký ức không thể đo đếm. Người thuyết minh kể rằng, chính Bác đã cho làm con đường rải sỏi với hai dụng ý giản dị, một là để Bác và mọi người rèn luyện sức khỏe, mát xa lòng bàn chân khi đi bộ, hai là để nếu có kẻ xấu xâm nhập, tiếng sỏi sẽ báo động cho người trong nhà. Một ý tưởng vừa nhân văn, vừa sâu sắc, vừa tự nhiên, dung dị vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược của một người luôn nghĩ xa vì nước, vì dân.

Đoàn nghe thuyết minh tại Khu di tích K9

Và khi đứng trước ngôi nhà sàn của Bác, ngay lập tức các giác quan của tôi được đánh thức. Ngôi nhà giản dị và ấm áp xiết bao. Phòng họp, phòng ngủ, phòng tiếp khách đều thoảng mùi gỗ, mùi tre, mùi của thiên nhiên hòa trong gió núi. Các ô cửa sổ nhỏ mở ra bốn phía, để trăng vào, để cỏ cây ghé chơi, để con người hòa cùng trời đất. Ngôi nhà có những chi tiết nhỏ nhưng chứa đựng nhân cách lớn, tư tưởng lớn, mang tính thời đại. Ví như những ô cửa trên tầng hai, Bác đã yêu cầu thợ lắp những khuông lưới nhỏ để chống côn trùng nhưng gió, nắng vẫn thong dong ra vào, mỗi ô cửa sẽ đem đến cho chủ nhân những bức tranh phong cảnh khác nhau… Bác là vậy, giản dị mà thanh tao, thông tuệ! Trên bàn, bộ ấm trà đã ngả màu thời gian, phía góc bếp vẫn khay men, bát đũa, lồng bàn… im lặng như chờ Bác từ một buổi họp chưa tan.

Lên K9, điều khiến chúng ta ngỡ ngàng còn là câu chuyện về năm chiếc xe chở thi hài Bác. Có thể nói, câu chuyện về hành trình thiêng ấy là một trong những trang sử sâu lắng mà xúc động nhất. Trong 6 năm chiến tranh ác liệt và đề phòng thiên tai lũ lụt đe dọa, đoàn 69, đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trọn vẹn 6 lần di chuyển thi hài Bác và lần cuối vào ngày 18/7/1975, đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác rời K84 về Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thủ đô Hà Nội.

Ba chiếc trong số năm chiếc xe ấy từng trực tiếp chở thi hài Bác trong những chuyến đi bí mật giữa rừng núi và Thủ đô. Một chiếc UAZ cứu thương của Viện Quân y 108, chiếc xe đầu tiên thực hiện sứ mệnh thiêng liêng. Một chiếc ZIL ba cầu, biển 470-189, được cải tạo đặc biệt để giảm rung lắc, đi qua những con đường rừng hiểm trở mà không lay động giấc ngủ của Người. Và chiếc xe Páp biển số 31-162, chiếc xe lội nước, sử dụng trong những lần đặc biệt vượt sông, đường ngập lụt, thiên tai, để bảo đảm thi hài Bác vẫn được di chuyển an toàn bất chấp khó khăn. Những chuyến đi ấy không giống nhau, có lần trong đêm tối, có lần giữa mùa mưa lũ, khi nước dâng ngập đường. Mỗi lần như thế, các chiến sĩ làm nhiệm vụ đều căng mình, nín thở, chỉ sợ một chấn động nhỏ khiến thi hài Bác lay động. Đó là những hành trình không ai được phép sai sót, những con người không tên mà mang trong tim niềm tin thiêng liêng: “giữ yên giấc ngủ của Người.”

Tiếng của nữ thuyết minh bỗng nhiên lắng xuống khi nhắc nhớ sự kiện mùa lũ năm 1971. Đêm đó trời Ba Vì mưa lớn, rừng sấm chớp, những chiếc xe nối đuôi nhau rời Hà Nội, vượt qua những con dốc trơn trượt để đưa Người về K9. Không đèn pha sáng, không tiếng còi, chỉ có ánh chớp lóe lên soi những gương mặt kiên nghị. Trong khoang xe, thi hài Bác được giữ gìn cẩn mật, phủ cờ Tổ Quốc. Nghe đâu, một người lính lái xe có kể lại, đêm đó, xen giữa những lần sấm rền, họ vẫn nghe như có tiếng ai đó khẽ nói: “Các chú vất vả quá…”

Không ai dám ngoảnh lại, chỉ lặng siết tay lái. Đêm Ba Vì hôm ấy như nặng hơn ngàn đêm khác nhưng khi đoàn xe đến Đá Chông, mưa bất chợt ngưng, mây rẽ ra, trăng hiện lên một quầng sáng bạc. Người ta bảo, đó là lúc đất trời đón Người về lòng mình. Ngắm nhìn những chiếc xe hôm nay, chúng ta như được diện kiến chứng nhân lịch sử năm nào để xúc động, để tự hào bởi hành trình ấy không chỉ chở thi hài mà còn chở theo lòng trung hiếu của cả dân tộc.

Các nữ văn nghệ sĩ lưu lại hình ảnh trước đường 81 bậc dẫn lên nhà sàn của Bác trong Khu di tích K9

K9 thành địa chỉ đỏ bởi mảnh đất này không chỉ là nơi Bác từng làm việc, nghỉ ngơi mà là nơi Người ở lại. Trong lòng khu di tích, có một căn phòng đặc biệt, đó là một hệ thống bí mật để bảo quản thi hài Bác. Trong phần ghi chép của di tích, có nhắc tới phòng số 1 và phòng số 2, nơi đặt hòm kính bảo quản thi hài, với các hệ thống kỹ thuật như buồng đệm, điều hòa, bể nước, máy phát dự phòng… Ánh sáng trong phòng luôn dịu, hương gỗ thông thoảng lên mùi ấm. Tôi đứng trước cánh cửa căn phòng, không dám bước vào, chỉ cúi đầu. Có người nói, đã nhiều đêm, trong tĩnh lặng, họ nghe như có tiếng bước chân nhẹ đi quanh nhà, tiếng dép cao su quen thuộc, tiếng đánh máy chữ, rồi gió lại lặng. Có thể đó chỉ là ảo giác của những tấm lòng quá mực yêu thương, nhưng cũng có thể, đó là cách Người trở lại, thênh thang như sương khói, chỉ để nhắn gửi: “Bác vẫn ở đây, giữa đất trời rộng lớn, giữa giang sơn đất Việt hùng cường..!” Tôi đặt tay lên ngực, nghe trái tim lặng thầm thổn thức. Trong phút giây ấy, tôi chợt hiểu, có những sự hiện diện không cần hình bóng, có những bước chân vẫn vang dù con người đã đi xa.

Trên đường xuống núi, tôi ngoảnh nhìn lại, nắng đã lên cao, sương tan, những tán lá bừng sáng. Tiếng chim vọng từ xa, tiếng cá quẫy phía hồ nước xanh trong vời vợi. Dáng liễu nghiêng bên hồ, hương hoa sữa nồng nàn và vườn cam đang mùa đọng mật. Tất cả như một bản hòa ca của đất trời, dịu dàng mà bền bỉ. Tôi chợt nghĩ: “K9 – Nơi Người vẫn ở lại” không chỉ là một địa danh, mà là một miền tâm tưởng. Người ở lại trong núi rừng Ba Vì, trong hơi gió sông Đà, trong từng bước chân trên con đường sỏi cuội, trong từng nhịp tim của những người đang sống, đang hướng về, đang ngày đêm vun trồng, tô điểm cho đất nước.

Rời K9, tôi cúi nhặt một viên cuội nhỏ. Viên sỏi mát lạnh khi chạm vào nhưng trong lòng thật ấm. Tôi giữ nó trong tay suốt đường về, như nắm một mảnh linh khí thiêng của đất trời K9. Có lẽ, cũng như viên sỏi ấy, Người vẫn ở lại, trong mỗi chúng ta, trong từng tấc đất quê hương. Và tôi hiểu, tri ân lớn nhất không phải là những vòng hoa hay dòng nước mắt, mà là giữ cho tiếng Việt luôn trong sáng, cho văn hóa Việt luôn bền sâu, là học nếp sống hòa hợp với thiên nhiên, là mộc Việt như Bác đã từng sống.

Gió Ba Vì vẫn thổi phía đại ngàn, phía Đà giang, nghe trong gió tiếng thơ Tố Hữu như khúc khải hoàn ca giục giã bước chân ta, thắp mãi trong ta niềm yêu kính Bác, niềm tự hào, tự tôn dân tộc:

Hồ Chí Minh
Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng
Trên đầu ta, ngọn cờ dân tộc
Trǎm thế kỷ trong tên Người: Ái Quốc
….
Ngọn cờ đỏ sao vàng bay phấp phới
Nước non Hồng vang dội Tiến quân ca
Hồ Chí Minh
Người trẻ mãi không già!

Vương Ly