50 năm với công trình thể nghiệm sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh

Vở kịch hát dân ca ví giặm "Hưng Đông" của tác giả Nguyễn Thế Kỷ
Chương trình nghệ thuật tại Lễ kỷ niệm 10 năm Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ảnh: Hoàng Nguyên

Mở đầu

Xứ Nghệ, tên gọi chung Nghệ An với Hà Tĩnh – là cái nôi thân thương mà cha ông đã sáng tạo nên ví giặm. Nếu như trong dòng chảy văn hóa ấy, các thế hệ cháu con không bảo tồn và phát triển thì ví giặm sẽ chỉ là di sản phi vật thể cần bảo vệ. Nhưng những người con của quê hương này đã bảo tồn và phát huy di sản của cha ông để lại, nâng ví giặm lên một tầm cao mới, không chỉ ngân lên trên đất Hồng Lam mà còn lan lỏa khắp mảnh đất hình chứ S và hơn thế nó còn vang vọng ra khắp năm châu khi được  UNESCO ghi danh ví, giặm là di sản phi vật thể đại diện nhân loại.

Ngược dòng thời gian, vào những năm 50-60 của thế kỷ XX, các làng nghề ngày càng mai một thì không gian diễn xướng ví giặm cũng ngày thu hẹp dần… Những câu ví câu giặm chỉ còn lại trong lời ru của bà của mẹ, trong lời kể của các bậc cao niên… Các lễ hội thưa dần những câu hát ghẹo hát giao duyên… Ngày ấy, phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng rất sôi động, nhân dân tự sáng tác tập luyện rồi biễu diễn cho dân xem. Nhiều hoạt ca hoạt cảnh, tiểu phẩm kịch ngắn… được sáng tạo phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân… Trong những tiết mục này đã có một vài câu hát ví hát giặm nhưng chỉ là điểm xuyết, chủ yếu vẫn là  tuồng, chèo, cải lương, ca Huế, bài chòi… Tuy nhiên sự manh nha ngày càng rõ hơn khi ví giặm được sử dụng tăng dần trong các tiết mục. Cũng từ đây một ý tưởng bắt đầu hình thành trong tư duy của các nhạc sĩ, nghệ sĩ về một đề án: sân khấu hóa dân ca ví giặm. Song, từ ý tưởng đến hiện thực là một khoảng cách không dễ vượt qua. Thời gian đầu, đã có rất nhiều cuộc hội thảo được tổ chức để xác định dân ca Nghệ Tĩnh có thể trở thành một kịch chủng trong gia đình kịch hát dân tộc được không? Sau nhiều lần tranh luận cuối cùng đã có được một đáp án: có thể được, nhưng cần có thời gian. Và công trình sân khấu hóa dân ca được bắt đầu với quyết định của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Nghệ An thực hiện đề án “Sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh”.

  1. Thành lập đội thể nghiệm với hơn 20 diễn viên nhạc công 

Năm 1973, Ty Văn hóa Nghệ An đã thành lập Đội thể nghiêm dân ca ví giặm do nhạc sĩ Thanh Lưu là Đội trưởng. Công việc đầu tiên là các nhạc công và diễn viên đi xuống các làng quê ven sông Lam và các địa bàn trong tỉnh để ghi âm các bài ví giặm, bài xẩm, hát ru, ca trù… của các nghệ nhân già. Cùng ghi chép các hình thức diễn xướng, môi trường diễn xướng, không gian diễn xướng. Sau đó tập hợp, phân tích xếp loại, đặt tên các làn điệu. Tiếp theo là phục dựng các trò diễn xướng do các nghệ nhân truyền dạy. Từ những chất liệu sưu tầm được các nhạc sĩ đã vận dụng đưa lên sân khấu thông qua các vai diễn với các nhân vật khác nhau, từ nguyên hợp chuyển thành phức hợp từ folklore (dân gian) đến nghệ thuật sân khấu.

  1. Những thủ pháp để sáng tạo làn điệu cho sân khấu kịch hát Nghệ Tĩnh

2.1. Xử lý và ứng dụng các làn điệu gốc hò, ví giặm:

Qua hàng chục vở thể nghiệm với nhiều thể loại, nhiều đề tài khác nhau các tác giả đã khai thác, xử lý các làn điệu gốc vào nhân vật một cách sáng tạo bằng các thủ pháp như: chắp nối làn điệu (từ ví sang giặm, từ giặm sang giặm, từ ví cao sang ví thấp, từ ví đò đưa sang ví phường vải…

Mặt khác do tính chất co giãn tiết tấu và giai điệu của làn điệu nên muốn thể hiện tâm trạng, tính cách nhân vật diễn viên có thể dùng ngữ khí, ngữ điệu lúc nhanh lúc chậm để xử lý trong lúc hát, đặc biệt là hát ví. Vì vậy, cũng là hát ví nhưng trên sân khấu có ví vui, ví buồn, ví thương, ví giận, ví ghen, ví chanh chua, ví lẳng lơ… Đây là một kiểu sáng tạo của các nghệ sĩ, diễn viên biểu diễn.

2.2. Xử lý và ứng dụng các làn điệu thuộc họ lai

Ngoài những làn điệu gốc (hò, ví, giặm) còn có các nhóm làn điệu được hình thành bởi giao thoa văn hóa giữa các vùng với Nghệ Tĩnh, gọi là họ lai, bao gồm: chèo (chèo Kiều), hát xẩm, hát ca trù, hát thờ cúng, hát ru con… Có thể nói các làn điệu này rất phong phú, đa dạng, mang nhiều sắc thái tình cảm, khúc thức chặt chẽ hoàn chỉnh. Khi đưa vào sân khấu nó được thể nghiệm bằng những thủ pháp sau:

Nghệ hóa làn điệu: vẫn giữ nguyên tiết tấu, nghệ thuật phổ thơ còn giai điệu được thay bằng giai điệu mới mang quãng đặc trưng của ví, giặm. Cách làm này tạo ra được một số làn điệu có giá trị mà thành công nhất là làn điệu xẩm thương hay còn gọi là thập ân phụ mẫu.

Dùng chất liệu này để phát triển bằng nhiều hình thức: Thứ nhất là sử dụng âm hình tiết tấu để phát triển, ví dụ từ “ba ta”, “đi thi” thành các làn điệu “đi rao” “khen thầy tài”. Trong nghệ thuật hát ca trù và hát xẩm nhiều làn điệu mới được sáng tạo và được dùng cho nhiều vở diễn.

Thứ hai, áp dụng nghệ thuật phổ thơ dân gian của làn điệu: Từ làn điệu xẩm thương phát triển cải biên thành làn điệu “nhớ anh em” trong vở Cô gái Sông Lam “xin đừng chia ly”, trong “thử thách” cũng rất thành công.

Thứ ba, đặc biệt là những làn điệu có tính cách như lẳng lơ ghen tuông, đanh đá… được sáng tác dựa trên chất liệu họ lai có thể kể tên như “say gió trăng”, “lòng vả lòng sung” “cam quýt đèo bòng” đã trở nên quen thuộc. Nhóm họ “lai” đã góp phần đáng kể vào việc cung cấp chất liệu để các nhạc sĩ sáng tạo nên nhiều làn điệu, tính cách mà nếu chỉ dựa vào chất liệu ví giặm Nghệ Tĩnh thì khó có được những thành công như thế.

Vở kịch hát dân ca ví giặm “Hừng Đông” của tác giả Nguyễn Thế Kỷ do Trung tâm Nghệ thuật truyền thống Nghệ An thể hiện. Ảnh: Hoàng Nguyên
  1. Những vấn đề cần thiết để sáng tạo làn điệu mới cho sân khấu

Thực tiễn thể nghiệm trong 50 năm qua từ những vở ngắn ban đầu như Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng đến những vở dài như Cô gái sông Lam, Mai Thúc LoanHoa đất, Lời thề thứ chín, Chuyện tình ông vua trẻ, Giá đời phải trả… các nhạc sĩ đã khai thác vốn cổ một cách tích cực, bên cạnh đó, họ đã tìm tòi và sáng tạo ra nhiều làn điệu mới có sức biểu hiện cao góp phần làm nên một sân khấu dân ca sống động, phong phú, giàu sức truyền cảm và đậm âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh. Nhiều làn điệu rất thành công như: “Giận mà thương”, “Hát khuyên”, “Tứ hoa”, “Một nắng hai sương”, “Non nước lời nguyền”… Đó là những làn điệu trữ tình có tâm trạng với nhân vật hoặc những làn điệu có tính cách: “Con cóc”, “Lập lờ”, “Chồng chềnh”, “Vì cam”… và những bài hát tập thể tạo nên không khí ngày hội như: “Hò bơi thuyền”; “Vui hội đông xuân”; “Vui hội bên sông”; “Vui hội làng Sen”… Tuy khái niệm về làn điệu chỉ mang tính tương đối, dẫu vậy nó cũng phải đạt được những tiêu chuẩn như sau: có kết cấu khúc thức dân gian (điệu thức, điệu tính); diễn tả được tính cách nhân vật; mang âm hưởng ví giặm.

Một số làn điệu được tiết tấu hóa các điệu hát tự do, ví dụ như hát ví đã được các nghệ sĩ biểu diễn sáng tạo ra những làn điệu có tiết tấu và rất có tính cách nhân vật.

Thủ pháp ghép nối đoạn 1 và đoạn 2 mang tiết tấu điệu thức và điệu tính khác nhau. Với thủ pháp này làn điệu “Giận mà thương” đã ra đời, nó là làn điệu xuất sắc, bố cục chặt chẽ, giàu sức truyền cảm được đông đảo quần chúng yêu mến. Bên cạnh đó một số làn điệu cũng có cấu trúc như vậy, gồm: “Một nắng hai sương”, “Chí vững gan bền”, “Xin đừng chia ly”; “Non nước lời nguyền”…

Thủ pháp vay mượn âm hình tiết tấu chèo. Có thể thấy rõ nhất thủ pháp này trong khi chuyển thể vở chèo Cô gái sông Lam thành vở kịch hát Nghệ Tĩnh Cô gái sông Lam. Đây là công trình thể nghiệm dài hơi rất thành công, trong đó nhạc sĩ Văn Thế, nhạc sĩ Thanh Lưu và hầu hết các nhạc công trong dàn nhạc đều sáng tạo được mỗi người ít nhất là 1 làn điệu. Cũng với thủ pháp này dựa trên kết cấu âm hình tiết tấu của nghệ thuật cải lương, Nghệ sĩ Ưu tú Đình Bảo đã sáng tạo nên làn điệu “Tứ hoa”. Đây là một làn điệu có thể nói thành công nhất trong quá trình sân khấu hóa dân ca. Với một số làn điệu hát nói và đối đáp trong sân khấu cải lương đã được sáng tạo cho sân khấu kịch hát.

Thủ pháp dùng chất liệu hò ví giặm để sáng tạo làn điệu. Tất cả các làn điệu đều dựa vào chất liệu hò ví giặm để sáng tác, tuy nhiên ở mảng đề tài hiện đại các làn điệu phải mang được hơi thở cuộc sống. Đây chính là điểm mạnh của kịch hát dân ca ví giặm, vì đã khắc phục được sự trì trệ trong các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương.

Trong 50 năm qua bằng sự thể nghiệm mang tính khoa học, nghiêm túc của các tác giả, đã sáng tạo được một hệ thống làn điệu góp phần vào sự hình thành kịch hát Nghệ Tĩnh. Những tên tuổi gắn liền với sự phát triển của công trình này phải kể đến nhạc sĩ Thanh Lưu, nhạc sĩ Đình Bảo, nhạc sĩ Văn Thế, nhạc sĩ Vi Phong, nhạc sĩ Hồ Hữu Thới, nhạc sĩ Phan Thành, nhạc sĩ Đình Đắc, NSND Hồng Lựu, NSND An Ninh…

Kết luận

50 năm để thể nghiệm sân khấu dân ca ví giặm thành một kịch chủng trong đại gia đình kịch hát truyền thồng Việt Nam thì thật là chưa đủ, hãy nhìn rộng ra các nghệ thuật đàn anh khác như tuồng, chèo, cải lương… đã trải qua hàng trăm năm, thậm chí còn lâu hơn để có được những trình thức mang tính kinh điển, ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa múa, hát, diễn. Vậy nên, với 50 năm chúng ta không thể đòi hỏi ở sân khấu dân ca Nghệ Tĩnh những gì lớn hơn. Tuy nhiên, kịch hát Nghệ Tĩnh đang tồn tại và phát triển với những gì vốn có của nó, sân khấu dân ca Nghệ Tĩnh đang tự khẳng định mình trong đại gia đình nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam. Từ công trình này chúng ta thấy dân ca ví giặm không những được gìn giữ bảo lưu mà nó còn được phát triển mạnh mẽ theo hướng phát triển sân khấu hóa, bổ sung một số lượng lớn làn điệu cải biên có chất lượng, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại mà vẫn giữ được hồn cốt dân ca ví giặm, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân trong tỉnh cũng như nhân dân cả nước.

Hiện nay, với gần một ngàn vở diễn từ sân khấu chuyên nghiệp đến sân khấu không chuyên, với nhiều thể loại và đề tài khác nhau đã thực sự là món ăn tinh thần trong đời sống văn hóa của đông đảo công chúng. Những bước đi của quá trình sân khấu hóa đã thành công trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật vận động của dòng chảy văn hóa. Tuy nhiên, để hội nhập trong giai đoạn hiện nay là một thách thức không nhỏ cho những người làm nghệ thuật sân khấu dân ca ví giặm. Việc thể nghiệm sân khấu hóa phải được coi là vấn đề quan trọng cấp thiết và phải tiếp tục, đẩy mạnh tìm ra cái mới, nó đòi hỏi sự nỗ lực của các nghệ sĩ, diễn viên, sự quan tâm của các cấp các ngành. Và một điều vô cùng quan trọng đó là phải tổ chức thực hiện một cách khoa học thì cần phải có những cán bộ năng lực chuyên môn tốt, giàu nhiệt huyết để công trình sân khấu hóa dân ca gặt hái được nhiều thành công.

Phan Thành